Đây là Blog của dòng họ Tô Mỹ Nội, nơi con cháu dòng họ tìm về cội nguồn tổ tông của mình...

Thái sư Trung tiết Vương Tô Hiến Thành

 Đức Tô Hiến Thành sinh ngày 22 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (11-2-1102), là con trai ông Tô Trung, quê ở phường Thái Hòa, thành Thăng Long và bà Nguyễn Thị Đoan, quê ở Ô Diên, quận Vĩnh Khang, nay là xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Phường Thái Hòa là hương Long Đỗ xưa nên (tham khảo thêm quyển Tộc phả Họ Tô làng Bao Hàm, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình viết cách đây hàng trăm năm ghi Thần Tô Lịch là Viễn tổ, Đức Tô Hiến Thành là Thủy tổ) phán đoán Đức Tô Hiến Thành có thể là hậu duệ của Thần Tô Lịch. Ông Tô Trung lúc trẻ sống ở quê vợ, sau một thời gian dài làm quan ở Thanh Hóa, khi hồi hưu trí sĩ lại về “chốn tổ Ô Diên” nên có thể nói Đức Tô quê ở Hạ Mỗ. Xã Hạ Mỗ ngày nay có Xóm Lẻ, có một số gia đình Họ Tô cư trú ở đó, thường gọi là Xóm Cụ Tô.

     Người được sinh ra ở phủ Trường Yên, tỉnh Ninh Bình là Thanh Hoa (tên gọi Thanh Hóa xưa) ngoại trấn, khi ông Tô Trung làm quan Lệnh doãn (Tri phủ) ở đó. Lúc nhỏ tuổi, Người sống ở Hạ Mỗ, được cậu ruột là Thiền sư Nguyễn Trí Bảo dạy dỗ. Lớn lên, Người sống ở Thanh Hóa, nơi ông Tô Trung làm quan, trong đó có thời gian hàng chục năm sống ở làng Cẩm Đới, tổng Trung Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, nay là làng Chánh Lộc, xã Hà Giang, huyện Hà Trung. Năm 1128, Người đỗ khoa Thủ sĩ (?), đời Lý Thần Tông, được làm một chức quan nhỏ ở thành Thăng Long và vẫn về sống với vợ con ở Ô Diên (Hạ Mỗ).

    Theo Thần tích ở Cẩm Đới chính từ (ngôi đền chính thờ Đức Tô Hiến Thành ở xã Hà Giang, huyện Hà Trung) thì Người có một bà chánh thất và ba bà trắc thất, sinh được 5 con trai, 3 con gái. Bà chánh thất thì Đại Việt sử ký toàn thư có ghi là Lữ (Lã) thị. Bà tên húy là Lã Thị Dung, hiệu là Phương Dung công chúa, quê ở làng Lạc Thị, xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội ngày nay. Đi khảo sát điền dã và tra cứu trong thư tịch, chúng ta tìm được một bà trắc thất (không rõ họ tên) của Đức Tô ở làng Hương Xá (thường gọi là làng Tè), xã Phúc Khánh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Bà sinh ra Thái úy Tô Trung Từ và Tô Thị Hiền. Tô Thị Hiền sau lấy Trần Lý, ông Tổ của các vua nhà Trần. Trong Phả hệ Họ Trần ghi tên là Tô Phương Lan, được truy phong là Nguyên Từ Hoàng hậu. Ngoài Tô Trung Từ, chúng ta còn tìm thêm được 3 người có thể là con trai Đức Tô (nói là có thể vì mới là tư liệu ghi trong gia phả của các chi họ, chưa phải là tư liệu in trong sách báo). Đó là Tô Tường Vân, Thủy tổ của 2 chi Họ Tô xã Ngư Lộc và xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa; là hai anh em Tô Khang Sơn và Tô Danh Hiển, Thủy tổ của một số chi Họ Tô ở huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Về con gái thì ngoài Tô Phương Lan, đã tìm thêm được một người là Tô Thị Kim Liên, hiệu là Quỳnh Hoa công chúa, em gái Tô Khang Sơn, chị gái Tô Danh Hiển. Đã tìm được 17 chi họ là hậu duệ và 6 chi họ có thể là hậu duệ của Đức Tô Hiến Thành ở các tỉnh Thái Bình, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Hưng Yên và thành phố Hà Nội.

    Tô Hiến Thành là nhà quân sự đại tàicó công chấn chỉnh quân đội, tham gia và chỉ huy trấn dẹp các cuộc nội loạn trong nước và các cuộc xâm lăng của ngoại bang, giữ vững an ninh và chủ quyền đất nước. Năm 1141, cùng Đỗ Anh Vũ dẹp giặc Thân Lợi. Thân Lợi thua chạy lên Lạng Châu. Người đem quân đuổi theo, bắt được Thân Lợi, đóng cũi giải về kinh trị tội. Năm 1159 vâng mệnh đi đánh giặc Ngưu Hống, Ai Lao, bắt được người ngựa, trâu voi, vàng bạc, châu báu rất nhiều, được phong Thái úy. Năm 1161, làm Đô tướng, lĩnh 2 vạn binh đi tuần tra miền Tây Nam và các nơi ven biển. Vua Lý Anh Tông thân đi tiễn đến tận cửa biển Đại An. Năm 1167, đã 65 tuổi, Người còn đem quân đi đánh giặc Chiêm Thành, thu nhiều thắng lợi. Vua Chiêm phải phái sứ thần sang xin hòa, giữ lễ phiên thần, triều cống như cũ. Người được phong chức Thái úy là chức quan võ cao nhất triều đình và sau này các triều đình phong kiến săc phong cho các địa phương có đền thờ Người đều tôn xưng Người là Lý Thái úy – Tô Đại Liêu.

     Tô Hiến Thành là chính trị gia kiệt xuất. Làm quan dưới 3 triều vua Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Người có nhiều công lao trong việc củng cố triều chính. Năm 1175, Người được Lý Anh Tông phong chức “Nhập nội Kiểm hiệu Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự, tước Trung Tiết vương” và ký thác việc phò ấu chúa là Thái tử Long Trát, mới 3 tuổi lên ngôi là Lý Cao Tông. Người đã vận động các đại thần trong triều đứng về phía mình, chống lại âm mưu của Lê Thái hậu muốn phế bỏ Lý Cao Tông để đưa Long Xưởng (là con trai của Lê Thái hậu, do phạm tội loạn luân đã bị truất ngôi Thái tử hạ xuống hàng thứ dân) lên làm vua.Mặc cho Lê Thái hậu dùng trăm phương ngàn kế, từ quyền lực ép buộc, đến vàng bạc mua chuộc, rồi ban yến vỗ về nhưng trước sau chỉ được Người trả lời: “Làm việc bất nghĩa mà được giầu sang, kẻ trung thần nghĩa sĩ đâu có vui làm, huống chi lời của Tiên đế còn ở bên tai. Thần không dám vâng mệnh”. Khi Người ốm nặng, Đỗ Thái hậu (mẹ Lý Cao Tông) đến thăm, Người đã công tâm tiến cử người hiền tài thay mình, không vị tình riêng, với câu nói nổi tiếng còn ghi trong sử sách: “Vì Thái hậu hỏi người nào thay tôi nên tôi nói là Trần Trung Tá, nếu như hỏi người hầu nuôi thì không phải Võ Tán Đường còn ai nữa”.

     Tô Hiến Thành còn có công hoạch định chiến lược và tổ chức việc khai hoang lấn biển lập nên những vùng nông nghiêp trù phú ở các tỉnh ven biển từ Hải Phòng đến Hà Tĩnh. Ở huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, có một cụm đình, đền, miếu thờ Đức Tô Hiến Thành ở các xã Cổ Am, Dương Am, Lạng Am, Việt Tiến, chính là nơi đóng quân doanh của Người trong công cuộc quai đê, lấn biển Ngải Am. Ngay khi có công được nhà vua phong đất, Người cũng không nhận những vùng đất tốt ở quê hương (không nỡ để họ hàng, dân làng thành tá điền, nô bộc) mà nhận ở những nơi hoang hóa và đưa con cháu đến đó khai hoang, phục hóa lập nghiệp với câu nói còn lưu trong giai thoại Xứ Đoài :”Khứ thị phát, lưu thị mạt” (Đi thì giầu sang, ở lại thì nghèo hèn).

    Tô Hiến Thành là nhà văn hóa, có công đề cao tư tưởng “Đức trị” của Nho giáo, góp phần vào việc ổn định trật tự xã hội cuối triều Lý. Người đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) khoa Mậu Ngọ, niên hiệu Thiệu Minh thứ nhất, đời Lý Anh Tông – 1138. Từ đời Lý Anh Tông, nhà Lý đã qua thời thịnh trị. Hai đời vua Lý Anh Tông, Lý Cao Tông đều lên ngôi vào lúc còn quá nhỏ tuổi; lớn lên lại ăn chơi xa xỉ, say đắm nữ sắc, không chăm lo việc nước. Quan lại trong triều thì xu nịnh, tham nhũng. Kinh tế thì thiên tai liên tiếp, nhiều năm mất mùa, dân tình đói kém. Trong nước giặc dã nổi lên (Thân Lợi, Sơn Lão), bên ngoài Chiêm Thành, Ngưu Hống quấy nhiễu. Xã hội lâm vào khủng hoảng. Thời đầu nhà Lý, Văn Miếu thờ chung cả Khổng Tử và Chu Công. Tháng 12 – 1156, Tô Hiến Thành xin lập miếu thờ riêng Khổng Tử. Nhà vua y theo lời, lập miếu thờ Khổng Tử ở phía Nam kinh thành Thăng Long. Với việc xây miếu thờ riêng Khổng Tử, dụng ý của Người là lấy giáo lý của Khổng Tử về nhân nghĩa, tam cương, ngũ thường, lấy khí tiết của nhà Nho quân tử, nêu gương sáng để mọi người noi theo. Việc làm đó như một tuyên ngôn quyết chấn hưng Nho giáo, lấy đạo Nho làm Quốc giáo, là ngọn cờ dẫn dắt nhân tâm trong hoàn cảnh xã hội hỗn loạn, đạo đức suy đồi lúc bấy giờ. Người đứng vào hàng ngũ những nhà Nho chính thống, đề cao Khổng Tử và học thuyết “Đức trị” của đạo Khổng.

    Đức Tô Hiến Thành mất ngày 12 tháng Sáu năm Kỷ Hợi (17-7-1179) ở thành Thăng Long, hưởng thọ 78 tuổi. Vua Lý Cao Tông giảm ăn 3 ngày, nghỉ thiết triều 6 ngày như một hình thức quốc tang. Với những công lao to lớn như trên, sau khi Người mất, nhân dân 200 làng xã đã xây đình, đền, miếu thờ Người, có nơi (như đền Cẩm Đới,xã Hà Giang, huyện Hà Trung) còn xây đền thờ từ khi Người còn sống. Số làng, xã xây đền thờ Người có lẽ chỉ sau Đức Thánh Trần. Nhưng do thiên nhiên, chiến tranh và cả con người tàn phá nên hiện nay mới tìm được 49 nơi còn đình, đền, miếu thờ Đức Tô ở các tỉnh, thành phố Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh. Ngôi đền chính thờ Người là đền Văn Hiến, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Đây là quê hương Người; ở đây còn có phần mộ của Người. Ban liên lạc Họ Tô Việt Nam đã hai lần quyên góp được 400 triệu đồng, dựng bức tượng đồng và tôn tạo lăng mộ Người là 2 trong 3 công trình tâm linh quan trọng nhất (đền thờ, tượng đài, lăng mộ) trong khuôn viên đền Văn Hiến. Nhà nước và thành phố Hà Nội đã đầu tư hàng trăm tỉ đồng để xây lại đền thờ Người, xây dựng các công trình trong khuôn viên đền Văn Hiến và vùng phụ cận thành một thắng cảnh, một khu du lịch tâm linh. Nhiều vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã trồng cây lưu niệm trong khuôn viên đền.

      Một năm hai lần, hàng ngàn con cháu Họ Tô cả nước và khách thập phương về đây cùng nhân dân xã Hạ Mỗ dâng hương tưởng niệm ngày sinh (22 tháng Giêng) và ngày hóa (12 tháng Sáu) của Người. Đức Tô Hiến Thành, người con vĩ đại của xã Hạ Mỗ, danh nhân kiệt xuất của đất nước, của dòng Họ Tô Việt Nam, đời đời sống mãi trong tâm thức của con cháu dòng Họ Tô và của người dân đất Việt.

                                                                                                       Tô Bỉnh

Share:

Thái úy Tô Trung Từ - Con trai Đức Tô Hiến Thành

 Tô Trung Từ là nhân vật lịch sử quan trọng của Họ Tô Việt Nam. Thông tin Họ Tô Việt Nam (TTHTVN) đã có nhiều bài viết về Tô Trung Từ. Nhưng trên Website Họ Tô Việt Nam chưa có nhiều thông tin về Tô Trung Từ. Thậm chí có người còn đưa thông tin sai lệch về Tô Trung Từ lên Website. Vì vậy chúng tôi thấy cần đăng lại một bài viết về Tô Trung Từ trong TTHTVN lên Website của dòng họ.

     Sách chính sử - Đại Việt sử ký toàn thư - chép về Tô Trung Từ chỉ hơn 10 dòng và cũng chỉ nói về những sự kiện có liên quan đến Tô Trung Từ trong ba năm 1209, 1210, 1211. Vì vậy phải tìm hiểu về Tô Trung Từ, qua các nguồn tư liệu khác.

    Năm 1986, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Thái Bình phối hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức hội thảo và xuất bản cuốn kỷ yếu “Thái Bình với sự nghiệp thời Trần”, tái bản năm 2001.

    Năm 2004, Viện Sử học Việt Nam xuất bản cuốn “Nhà Trần và con người thời Trần” gồm các bài đã được trình bày trong các cuộc hội thảo do Viện Sử học và Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với các tỉnh Nam Định, Thái Bình tổ chức. Từ hai quyển sách trên và từ bản thần phả, thần tích ở đình làng Vỵ Khê, xã Điền Xá, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, nơi thờ Tô Trung Từ làm ông Tổ nghề trồng cây cảnh Việt Nam có thể rút ra mấy điểm quan trọng về Tô Trung Từ.

    1- Tô Trung Từ là con trai của Đức Tô Hiến Thành

    Khi nghiên cứu về Tô Trung Từ, người ta thường đặt câu hỏi là giữa Tô Hiến Thành và Tô Trung Từ có mối quan hệ gì với nhau vì:

    - Hai người sinh trước sau nhau khoảng 40 - 50 năm (Tô Hiến Thành sinh năm 1102; Tô Trung Từ khoảng năm 1150).

    - Hai người cùng làm Thái úy phụ chính cho hai triều vua Lý kế tiếp (Tô Hiến Thành phụ chính Lý Cao Tông 1175; Tô Trung Từ phụ chính Lý Huệ Tông 1211, cách nhau 36 năm).

    - Hai người cùng được phong ấp gần nhau (Thái ấp của Tô Hiến Thành ở xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình ngày nay; Thái ấp của Tô Trung Từ ở xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà ngày nay).

    Câu hỏi trên, đã được sách “Nhà Trần và con người thời Trần”, giải đáp. Nhà báo Nguyễn Sĩ Chân, báo Kinh tế và Đô thị (Hà Nội) ở trang 216 quyển sách trên đã viết: “Năm Canh Thìn, ngài Trần Hấp sinh ra Trần Quý còn có tên là Lý. Ông Lý lấy được con gái Thái úy nhà Lý là Tô Hiến Thành”. Tư liệu này, ông Nguyễn Sỹ Chân trích dịch từ sách “Trần gia thế tộc ký tự” (Gia phả ghi chép các đời dòng họ nhà Trần), bản chữ Hán, lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm.Trần Lý là con rể Tô Hiến Thành; Tô Trung Từ là em vợ (hay anh vợ) Trần Lý. Như vậy Tô Trung Từ là con trai Đức Tô Hiến Thành.(Xem thêm bài: Trần Lý là con rể Đức Tô Hiến Thành - Tư liệu thành văn hay truyền khẩu; đăng trong Mục Khoa học - Lịch sử Website Họ Tô Việt Nam).

    2- Tô Trung Từ là anh vợ Trần Lý, ông Tổ của các vua Trần

      Các tài liệu trước nay đều nói Tô Trung Từ là em vợ Trần Lý, có lẽ chỉ vì một lý do là Trần Thị Dung, con gái Trần Lý gọi Tô Trung Từ bằng cậu.

    Nhưng xem trong hai quyển sách nói trên, thì Tô Trung Từ không thể là em vợ Trần Lý. Trang 62 sách “Thái Bình với sự nghiệp thời Trần”, Nguyễn Thanh Vân, nguyên Trưởng ban nghiên cứu lịch sử Đảng, Tỉnh ủy Thái Bình viết: “Khi đã trở thành một gia đình làm ăn thịnh vượng, cụ Hấp thông gia với Họ Tô là nhà hào phú và có cháu là Tô Trung Từ đang làm quan cho triều Lý. Qua Tô Trung Từ, con cụ Hấp là Trần Lý đã xin được một chân đốc gác và giữ nguyên vật liệu của vua Lý ở làng Quan Bế, bên cạnh làng Lưu Xá, dùng vào việc xây dựng hành cung Ngự Thiên của vua Lý Cao Tông ở Hưng Nhân”. Theo một tài liệu tham khảo khác thì con gái Tô Hiến Thành là Tô Thị Hiền khi kết duyên với Trần Lý mới có 15 tuổi. Nếu Tô Trung Từ là em vợ Trần Lý thì lúc đó còn là một thiếu niên, sao có thể làm quan trong triều nhà Lý và xin cho Trần Lý làm chân quản lý vật liệu xây cung Ngự Thiên.

    “Phả hệ họ Trần” in trong tạp chí Văn hóa Họ Trần số 1 - Tháng 9-2010 ghi rõ vợ Trần Lý là Tô Phương Lan sau được phong là Nguyên Từ Hoàng hậu “Có anh là Tô Trung Từ làm quan triều Lý”.

     Còn Trần Thị Dung gọi Tô Trung Từ  bằng “cậu” đó là cách xưng hô của người Thái Bình, quê của Tô Trung Từ và Trần Thị Dung. Ở Thái Bình, trước năm 1945, anh trai, em trai mẹ đều gọi là cậu; chị gái, em gái bố đều gọi là cô.

    3- Công lao của Tô Trung Từ với triều Lý

    Từ đời vua Lý Anh Tông, nhà Lý bắt đầu suy vong, nhưng đến đời Lý Cao Tông thì sự suy vong càng nghiêm trọng, đặc biệt là từ khi Tô Hiến Thành qua đời. Trong nước thì loạn lạc triền miên, bên ngoài thì quân Tống, quân Chiêm Thành quấy phá biên giới. Là quan võ của triều đình, chắc Tô Trung Từ phải nhiều lần tham gia đánh dẹp, nhưng trong sử sách không thấy nói đến vì như trên đã nói, chính sử chỉ ghi chép những sự kiện có liên quan đến Tô Trung Từ trong ba năm 1209, 1210, 1211.

    Còn trong hai quyển sách về thời Trần kể trên, cũng chỉ nói đến những hoạt động quân sự của Tô Trung Từ, khi ông liên kết với cha con Trần Lý. Lúc đó ông trấn thủ vùng Nam Định. Chỉ trong hai năm 1209, 1210 đã ba lần đem quân dẹp loạn ở Ninh Bình, Thanh Hóa; về giải cứu cung Ngự Thiên, bảo vệ Thái tử Sảm khi bị Đinh Khá tấn công; về bảo vệ kinh thành Thăng Long khi bị Đỗ Quảng đánh phá.

    Với những công lao to lớn, Tô Trung Từ  được vua nhà Lý phong chức Điện tiền chỉ huy sứ năm 1210 và chức Thái úy phụ chính là chức võ quan cao cấp nhất trong triều đình vào đầu năm 1211.

    Và sau này, ông còn kiên quyết chống lại âm mưu của Trần Thủ Độ, chiếm ngôi nhà Lý.

    4- Tô Trung Từ có công lớn với nhà Trần

    Ngoài việc Tô Trung Từ xin cho Trần Lý làm chân quản lý nguyên vật liệu xây cung Ngự Thiên; trong sách “Nhà Trần và con người thời Trần” hai tác giả Dương Quảng Châu và Phạm Hóa, chuyên viên bộ phận nghiên cứu lịch sử dân tộc thuộc Ban nghiên cứu lịch sử Đảng, Tỉnh ủy Thái Bình đã viết (trang 132): “Điều này chứng tỏ Họ Tô cách đây 800 năm, thời Trần Lý làm rể có uy thế đến chừng nào. Trần Lý, nhờ có Tô Trung Từ mà mạnh dần lên cả về mặt kinh tế và chính trị. Sau đời Trần Lý, các con ông là Trần Thừa, Trần Tự Khánh, cháu họ là Trần Thủ Độ… sau sự biến kinh thành năm 1209 (loạn Quách Bốc) đã được Tô Trung Từ đưa vào kinh sư để dần thâu tóm quyền lực từ trung ương”.

    Là một trung thần của nhà Lý (như cha ông là Tô Hiến Thành), Tô Trung Từ đưa con cháu Họ Trần vào triều đình, cũng mong có thêm người tài để phù vua Lý. Khi thấy triều chính nhà Lý ngày càng thối nát, thế lực Họ Trần ngày càng mạnh lên, biết sức mình không cản được đà suy vong nên mùa thu năm 1211, lúc đang ở địa vị cao sang là Thái úy phụ chính, ông đã treo ấn từ quan về sống ẩn dật ở làng Vỵ Khê. Việc Họ Trần đoạt ngôi nhà Lý là ngoài ý muốn của Tô Trung Từ, nhưng không thể vì thế mà không nói đến công lao to lớn của ông đã tạo cho Họ Trần, thế lực kinh tế, chính trị, quân sự rất quan trọng ban đầu.

       5- Tô Trung Từ là ông Tổ nghề trồng cây cảnh Việt Nam

    Đình làng Vỵ Khê, xã Điền Xá, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định thờ Bản cảnh Thành hoàng Hổ mang đại vương là tướng Nguyễn Công Thành có công giúp Ngô Vương Quyền đánh giặc Nam Hán và thờ ông Tổ nghề trồng cây cảnh là Tô Trung Từ.

    Bản thần phả của đình do Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) phần về Tô Trung Từ viết: “Đến cuối đời Lý, năm Tân Mùi (1211), Thái úy Tô Trung Từ đem quân tu sửa thành Bình Giã làm một thành lớn, dạy dân địa phương trồng hoa, tỉa cây để sinh sống, lại sai người mở một con sông nhỏ từ biển chảy vào Nam chợ, khiến cho việc qua lại của các thuyền buôn được thuận lợi. Từ đây mỗi khi đến ngày 4 tháng Giêng, dân địa phương làm giỗ Tô công theo tiền lệ, dùng lễ tam sinh, tam ngư. Cho nên đến năm Tân Sửu (1481), Phạm Đôn Lễ người xã Hải Triều, huyện Ngự Thiên đỗ khoa thi Đình, khi trở về nhân qua đây đã tiến dâng một đôi câu đối rằng:

                      Tài thụ chủng hoa Tô Tướng thủy

                      Nguyễn trang Vị xã hiệu chi tiên

    (Dịch ra có nghĩa là: Tỉa cây, trồng hoa do Tướng công Họ Tô truyền dạy trước – Trại Nguyễn là tên ngày xưa của xã Vị bây giờ)

    Thiết nghĩ nên hỏi tổ tìm tông, già nên dạy trẻ, gần nên khuyên xa, không được quên sự nghiệp lúc khởi đầu, đầy gian nan vất vả để tạo được thành công”.

    Ở đình cũng còn lưu giữ một văn bản nói cụ thể hơn về sự việc này: “Căn cứ vào thần phả, tư liệu Hán Nôm còn lại và truyền thuyết ở địa phương thì lịch sử cụ Tổ làng nghề trồng hoa cây cảnh như sau:

    Thời vua Lý Cao Tông, Tô Trung Từ được phong Điện tiền chỉ huy sứ. Đến năm 1210 được phong Chiêu thảo đại sứ. Mùa xuân năm Tân Mùi (1211), Thái tử Sảm lên ngôi là Lý Huệ Tông đã phong Tô Trung Từ làm Thái úy phụ chính. Cũng vào năm Tân Mùi (1211) quan Thái úy Tô Trung Từ đã đến Nguyễn gia trang thấy nơi đây là vùng đất đẹp, ruộng đồng màu mỡ, dân cư thuần phác, ông đã cho lập hành cung để đi về. Về sống tại đây ngoài việc khuyến khích sản xuất, mở rộng nghề nông tang, ông còn dạy dân địa phương trồng hoa, trồng cây cảnh làm kế sinh sống lâu dài… Nhớ công ơn cụ Tổ làng nghề trồng hoa cây cảnh, nhân dân ta đã thờ cúng Ngài tại đình làng và hàng năm kỵ Ngài vào ngày 4 tháng Giêng âm lịch”

    6- Vết bôi đen cần xóa bỏ

    Đại Việt sử ký toàn thư viết về Tô Trung Từ chỉ độ 10 dòng nhưng đều nói về công lao của Tô Trung Từ với nhà Lý và cả nhà Trần.

    Nhưng trong quyển Đại cương Lịch sử Việt Nam - Tập I (NXB Giáo dục - 2010) ở trang 170 có lẽ lấy tư liệu từ Việt sử lược có viết một câu: “Tháng 7 năm 1211, Tô Trung Từ đang đêm sang Gia Lâm tư thông với công chúa Thiên Cực, bị quan nội hầu Vương Thượng là chồng công chúa giết”.

    Thông tin trên chứa đựng nhiều điều phi lý:

    - Thiên Cực công chúa là ai: Cũng theo quyển Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập I thì năm 1209, Hoàng tử Sảm (con vua Lý Cao Tông) chạy loạn về Hải Ấp lấy con gái của Trần Lý là Trần Thị Dung làm vợ. Năm 1210 lập Trần Thị Dung làm Nguyên phi, năm 1217 Trần thị được phong Hoàng hậu. Năm 1225, Huệ Tông truyền ngôi cho Lý Chiêu Hoàng, tự mình làm Thái Thượng hoàng và Trần Thị Dung là Hoàng Thái hậu.

    Năm 1226, Lý Huệ Tông bị truất bỏ ngôi Thượng hoàng, đưa ra tu ở chùa Chân Giáo, gọi là Thiền sư Huệ Quang. Thái hậu Trần Thị Dung bị giáng làm Thiên Cực công chúa và gả cho Trần Thủ Độ. Như vậy Thiên Cực công chúa là Trần Thị Dung và chồng Trần Thị Dung là Trần Thủ Độ. Tô Trung Từ với Trần Thị Dung là bác cháu; Tô Trung Từ lúc đó đã là Thái úy phụ chính, tuổi đã lục tuần làm sao lại có chuyện loạn luân đó được. Theo ông Tô Ngọc Cừ là hậu duệ của Đức Tô Hiến Thành ở làng Đồn Điền, xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa thì do Tô Trung Từ kiên quyết chống lại việc cướp ngôi nhà Lý, nên nhân một tiệc rượu ở nhà Trần Thủ Độ, ông bị chuốc rượu cho say rồi khiêng bỏ vào buồng của Trần Thị Dung. Từ đó dựng vụ án chính trị thành vụ án ghen tình!

    - Vương Thượng là ai: Xem trong lịch sử thời Lý - Trần thì không thấy người nào có tên là Vương Thượng. Vương Thượng là từ Hán Việt dịch ra có nghĩa là “trên vua”. Trong thời đại phong kiến, không ai dám xấc xược đặt tên như vậy. Việc đó là phạm tội “khi quân” (khinh vua) và bị khép vào án tử hình. Như trên đã nói chồng Thiên Cực công chúa là Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ được tôn là Thượng phụ, phải chăng từ đó gọi trại đi là Vương Thượng. Có lẽ để tránh tiếng cho một việc làm xấu xa, hèn hạ là giết hại Tô Trung Từ, bác ruột của Trần Thị Dung, người đã đưa Trần Thủ Độ vào làm quan triều Lý, rồi Trần Thủ Độ thâu tóm quyền lực để cướp ngôi nhà Lý, nên phải mạo danh như vậy.

    - Về thời gian cũng là phi lý: Năm 1211, Tô Trung Từ đang là Thái úy phụ chính dưới triều Lý Huệ Tông. Thấy chính sự nhà Lý ngày càng rối ren, thế lực Họ Trần trong triều đình ngày một mạnh lên, Tô Trung Từ đã treo ấn từ quan về ở ẩn ở làng Vỵ Khê. Ở đây, ông đã dạy cho dân nghề trồng hoa, cây cảnh. Việc đó phải kéo dài nhiều năm, sau năm 1211. Nên khi ông mất, nhân dân lập đền thờ và tôn ông làm ông Tổ nghề trồng cây cảnh. Việc sát hại Tô Trung Từ nếu có, không thể xẩy ra vào năm 1211, lúc đó Trần Thị Dung mới là Nguyên phi của Lý Huệ Tông. Việc đó nếu có, chỉ có thể xẩy ra từ năm 1226 về sau, lúc Trần Thị Dung bị giáng làm Thiên Cực công chúa, lấy Trần Thủ Độ và nhà Trần mới đoạt ngôi nhà Lý.

    7- Dấu tích của Tô Trung Từ ở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình:

    Theo sách “Thái Bình với sự nghiệp thời Trần” thì Tô Trung Từ có đất phong ở làng Phù Ngự (ấp Ngừ), huyện Ngự Thiên, phủ Long Hưng, trấn Sơn Nam.  “Phù Ngự của Tô Trung Từ nay gồm các thôn Ngừ, Nại, Tè (thuộc xã Liên Hiệp), thôn Khuốc (xã Phúc Khánh), huyện Hưng Hà và các xã giáp ranh xung quanh. Con cháu Tô Trung Từ là hai chi họ Tô Hiến, Tô Mạnh vùng này cho biết: cho đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945, Họ Tô trong vùng (ấp Ngừ trước kia) vẫn tập trung về đây (làng Ngừ, xã Liên Hiệp) mỗi khi tế Tổ hoặc khi làng vào đám. Các làng xung quanh, đều rước kiệu về hội tế. Điều này chứng tỏ Họ Tô cách đây 800 năm, thời Trần Lý làm rể có uy thế đến chừng nào” (Dương Quảng Châu - Phạm Hóa, Sđd trang 108 - 110).

    Tháng 5 năm 2014, Ban liên lạc Họ Tô Việt Nam tiến hành một cuộc khảo sát điền dã để xác minh những tư liệu trên, thấy tình hình có hơi khác. Hiện nay chỉ có thôn Hương Xá (thường gọi là làng Tè), xã Phúc Khánh có người Họ Tô mà là hai chi họ Tô Tiến, Tô Đình. Hai chi họ ở đây đã lâu đời, xưa kia có gia phả nhưng trong kháng chiến chống Pháp, gia phả bị cháy. Nay lập lại gia phả nhưng chỉ ghi được ông Tổ tám đời cách đây khoảng 200 năm là Tô Tiến Xương và Tô Đình Nhậm nên cũng không biết là Tổ tiên mình có phải là Tô Trung Từ không?

    Ở đây xưa kia có một ngôi đình lớn trong khuôn viên rộng đến 2ha thờ Thành hoàng làng, nhưng các cụ cao tuổi cũng không biết đình thờ ai chỉ thấy gọi là đền Bóng Thánh hay đền Bóng Ông. Hàng năm, đình mở hội ngày 1 tháng Tư âm lịch. Các làng xung quanh đều rước kiệu về dự hội.

    Đến năm 1951, giặc Pháp cho quân về phá đình, lấy vật liệu xây bốt Cầu Lại. Các sắc phong, thần tích đều bị đốt, chỉ còn một pho tượng Thánh bằng đồng lăn lóc trong đống đổ nát, đã được ông Tô Đình Bổ đem về cất giữ và sau đó đưa tượng vào thờ ở miếu Vua Bà là ngôi miếu thờ người cung phi thứ năm của Thục An Dương Vương.

    Năm Quý Mùi (2003), Ủy ban nhân dân huyện Hưng Hà ra quyết định giao cho thôn Tè (Hương Xá) xây lại ngôi đền thờ Tô Trung Từ. Đến đây dân làng mới biết ngôi đình xưa kia thờ Tô Trung Từ làm Thành hoàng làng và pho tượng đồng chính là tượng Tô Trung Từ. Ngôi đền xây xong làm nơi thờ chung Tô Trung Từ (ở gian chính giữa), Vua Bà và Thánh Mẫu. Dân làng vẫn theo lệ cũ tổ chức lễ hội vào ngày 1 tháng Tư âm lịch.

    Như vậy có thể hai chi họ Tô Tiến, Tô Đình là hậu duệ của Tô Trung Từ nhưng bị “tam sao thất bản” thành chi họ Tô Hiến, Tô Mạnh.

    Theo các cụ cao tuổi chi họ Tô Tiến thì chi họ Tô Tiến ở đây với chi họ Tô Văn, thôn Thọ Khê, xã Cộng Hòa, cùng huyện có mối quan hệ họ hàng với nhau. Họ Tô Văn, ông Tổ là Tô Tiến Triều và xưa kia khi làng Tè vào đám, chi họ Tô Văn vẫn làm cỗ đem vào cúng. Như vậy có thể chi họ Tô Văn, thôn Thọ Khê, xã Cộng Hòa, huyện Hưng Hà cũng là hậu duệ của Tô Trung Từ.

 

Tô Bỉnh

Share:

Trần Lý là Con rể Đức Tô Hiến Thành???

  Năm 2011, tôi về thăm nhà ông Tô Nhuần, ở xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; được ông Nhuần đưa đọc quyển sách “Nhà Trần và con người thời Trần”, do Viện Sử học và Hội Khoa học lịch sử Việt Nam xuất bản. Tôi thu nhận được một thông tin của nhà báo Nguyễn Sỹ Chân (Báo Kinh tế & Đô thị Hà Nội), viết trong quyển sách đó: “…Năm Canh Thìn, ngài Trần Hấp sinh ra Trần Quý, còn có tên là Lý. Ông Lý lấy được con gái Thái úy nhà Lý là Tô Hiến Thành…”.

    Phả hệ Họ Trần, in trong Tạp chí Văn hóa Họ Trần số 1 - Tháng 9 năm 2010 viết là Hoàng hậu Tô Phương Lan (vợ Trần Lý) có anh là Tô Trung Từ làm quan triều Lý.

     Từ đó tôi suy ra Tô Trung Từ là con trai Đức Tô Hiến Thành. Đây là thông tin rất quan trọng với dòng Họ Tô Việt Nam vì nó làm sáng tỏ thêm thân thế Đức Tô Hiến Thành. Vì vậy tôi muốn tìm nhà báo Nguyễn Sỹ Chân để tìm hiểu nguồn gốc thông tin nói trên. Tôi tìm nhiều cách (tìm về Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Thái Bình, nơi cung cấp nhiều tư liệu cho quyển sách; tìm về Tòa soạn Báo Kinh tế & Đô thị Hà Nội) nhưng không liên lạc được với ông Nguyễn Sỹ Chân. Nên tôi vẫn chưa yên tâm khi công bố thông tin trên.

    Sau khi ông Tô Nhuần mất, nhân khi lên thắp hương trong lễ 49 ngày, tôi đã xin gia đình quyển sách “Nhà Trần và con người thời Trần”. Vừa qua tôi đã tìm đọc lại bài viết của nhà báo Nguyễn Sỹ Chân, in trong quyển sách trên thì thấy là thông tin trên đã được ông Nguyễn Sỹ Chân trích dịch từ sách “Trần gia thế tộc ký tự” (Gia phả ghi chép các đời dòng họ nhà Trần), bản chữ Hán, lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm.

    Năm 2011, ở nhà ông Tô Nhuần, không có nhiều thời gian, tôi chỉ đọc lướt và chép được vài dòng thông tin như đã ghi ở đầu bài viết này. Nay đã tìm được xuất xứ chắc chắn của thông tin trên, tôi xin chép lại để khẳng định là: “Tô Phương Lan, con gái Đức Tô Hiến Thành (sau được nhà Trần truy tôn là Nguyên Từ Hoàng hậu) là vợ Trần Lý, ông Tổ của các vua nhà Trần (sau được truy tôn là Nguyên Tổ Hoàng đế). Tô Trung Từ, anh trai của Tô Phương Lan (rõ ràng) là con trai Đức Tô Hiến Thành”.

    Đoạn văn trong bài viết của Nguyễn Sỹ Chân, đựơc ông trích dịch từ quyển sách chữ Hán nói trên, không chỉ nói Trần Lý là con rể Đức Tô Hiến Thành mà còn nói rõ về nguồn gốc nhà Trần, là thông tin rất bổ ích, tôi xin chép lại để độc giả quan tâm, tham khảo:

    “….Ta, tổ tiên vốn họ Quy (Trung Quốc), làm đến Hầu tước, chức Tam công nhà Chu. Sau đó có người lấy quý tiểu thư nhà Chu làm vợ, sinh được một quý tử, đặt tên là Trần Mân. Vì ngài được phong vị ở ấp Trần, nên lấy Trần làm họ, nối tiếp truyền quốc. Đời Sở Huệ vương cầm quyền, đã đổi nơi này làm Phúc Kiến đạo, Phúc Châu phủ, Mân huyện. Đến đời Tống Thiệu Hưng; ở nước ta là khoảng đời Lý Nhân Tông (1085 - 1091), ngài Trần Kinh (có sách chép là Trần Kính), dời đến Nam Thiên đô, tức Thiên Trường phủ, Mỹ Lộc huyện, Tức Mạc thôn. Lấy đánh cá làm nghề. Rồi lấy gái làng ấy, sinh ra Trần Hấp. Ở thời Lý Thần Tông, Trần Hấp được phong làm Thủy sư. Khởi đầu từ đó, ngài Trần Hấp chuyển đến ở Long Hưng phủ, Ngự Thiên huyện, xã Thái Đường, làng Tình Cương (Thái Bình nay).

    Trần Hấp được thầy địa lý giỏi, đặt mả táng ngài Trần Kinh ở chỗ cánh đồng có đám lửa cháy lõm xuống thành Kim huyệt “Thổ Phúc Tàng Kim”. Mặt trước nhìn ra cửa sông (tục gọi là Cửa Vàng), đầu thì gối lên voi quỳ, bia dựng, có lâu đài, cờ trống la liệt, tả phù, hữu bật, văn chương đủ vẻ. Ngày Tân Dậu, giờ Kỷ Sửu, ông tổ họ Trần là Trần Kính được cải táng tại đó. Sau khoảng trăm ngày, phần mộ ấy đùn lên những viên đất nhỏ. Đó là điềm đại cát. Đất ấy gọi là đất “Địa khí chung linh”; con gái thì nhập cung phi, nhan sắc đắc thiên hạ; con trai thì ở ngôi phụ chính, sau trăm năm thì đại phát, ấy là năm Mậu Dần.

    Năm Canh Thìn, Trần Hấp sinh ra Trần Quý, còn có tên là Lý. Ông Lý lấy được con gái Thái úy nhà Lý là Tô Hiến Thành, sinh được 4 trai, 1 gái. Con trưởng là Trần Thừa (sau là Thái Tổ). Con thứ là Tự Khánh, được phong là Thái úy triều Lý, sau này được phong Kiến Quốc đại vương. Con thứ ba là Trần An Quốc, được phong là Chiến Quốc vương. Con trai thứ tư là Thủ Độ, làm Lý triều Điện tiền chỉ huy sứ, sau được phong là Trung Vũ đại vương. Nữ là Thuận Trinh, tên húy là Dung, làm vợ Lý Huệ Tông, sinh ra Công chúa Thuận Thiên và Công chúa Chiêu Thánh. Cả hai người này về sau đều là vợ Trần Thái Tông (Trần Cảnh).

    Trần Thừa lấy Lê thị, sinh ra 3 người con trai. Con trưởng là Trần Liễu, làm Thái úy, được phong là Yên Sinh vương. Con thứ là Trần Cảnh, sau lấy Lý Chiêu Hoàng, được lập là Trần Thái Tông. Con thứ ba là Trần Nguyệt Cải (còn gọi là Trần Nhật Hiệu), làm Thái úy và người con gái là Thụy Bà công chúa, có công nuôi cháu là Trần Quốc Tuấn làm con nuôi trong 8 năm.

    Tháng Sáu ngày 16 năm Mậu Dần, giờ Thân, Trần Cảnh ra đời, long nhan tuấn tú, dáng vẻ lỗi lạc, có tướng Đế vương. Trần Thừa, Trần Thủ Độ và các bậc cha chú xem xét chính sự, nghĩ trừ đạo tặc, thu lấy sơn hà từ tay họ Lý. Sáng lập cơ nghiệp họ Trần là từ tay Trần Cảnh vậy…”

    Tuy nhiên trong văn bản trích dịch nói trên, thấy cũng còn điều nghi vấn (không liên quan đến việc Trần Lý là con rể Đức Tô Hiến Thành). Trong Phả hệ Họ Trần (đã dẫn ở đầu bài viết này) nói là Tô Phương Lan sinh được 2 con trai và 2 con gái là Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung, Trần Thị Tam nương. Còn đoạn trích dịch nói trên lại nói là bà sinh được 4 con trai và 1 con gái là Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần An Quốc, Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung. Việc Trần An Quốc, Trần Thủ Độ là con trai Trần Lý, chưa thấy sách nào nói đến. Trong quyển Thuyết Trần (Sử nhà Trần) do cụ Trần Xuân Sinh, 91 tuổi biên soạn năm 1991, xuất bản năm 2003, có Lời giới thiệu của Hòa thượng Thích Thanh Tứ (Trần Văn Long), Trưởng ban liên lạc Họ Trần Việt Nam, thì Trần Hấp sinh được 2 con trai là Trần Lý và Trần Hoàng Nghị. Trần Hoàng Nghị sinh An Quốc, An Hà và An Bang tức Trần Thủ Độ. Ông Đinh Công Vĩ trong “Chuyện tình Vua chúa Hoàng tộc Việt Nam”, không rõ lấy tư liệu từ đâu, cũng viết là: “Trần Hấp sinh Trần Lý và Trần Thiện. Trần Lý lấy con gái Tô Tân (?) là Tô Thị Hiền(mới 15 tuổi), sau sinh Trần Thừa (1184), Trần Tự Khánh (1188), Trần Thị Ngân (phải chăng là Trần Thị Tam nương?) và Trần Thị Dung (1194); Trần Thiện sinh Trần An Quốc (1191), Trần Thủ Độ (1194). Nhưng ngày 26 tháng 8 năm 2019, Hội đồng Họ Trần Việt Nam, phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, tổ chức Tọa đàm khoa học về nhân vật Trần Hoàng Nghị đã đi đến kết luận là: “Không có căn cứ nào cho việc thừa nhận Trần Hoàng (Hoằng) Nghị là một nhân vật lịch sử và là phụ thân của Thái sư Trần Thủ Độ”. Có nghĩa là trong lịch sử Việt Nam, không có nhân vật Trần Hoằng Nghị và đến nay cũng chưa xác định được phụ thân Trần Thủ Độ là ai.

Tô Bỉnh 

Share:

Những hậu duệ của Đức Tô Hiến Thành

 Bài phát biểu trong Lễ kỷ niệm 910 năm ngày sinh Đức Tô Hiến Thành

22 tháng Giêng Nhâm Ngọ (1102)- 22 tháng Giêng Nhâm Thìn (2012)

Về thân thế sự nghiệp của Đức Tô Hiến Thành đã có nhiều sách vở, báo chí và hội thảo tại Đan Phượng năm 1997 nói khá đầy đủ, rõ ràng. Và ngay tại diễn đàn này, trong nhiều năm qua đã có nhiều diễn giả phát biểu ý kiến.

Hôm nay thay mặt Ban liên lạc Họ Tô Việt Nam tôi xin cung cấp một số tư liệu về những hậu dụê của Người cũng chính là để làm phong phú thêm về tài năng, đạo đức và công trạng của Người.

Từ trước đến nay chúng ta mới chỉ có những tài liệu nói về thân thế sự nghiệp của Người và một chút ít về phu nhân Lã Thị Kim Dung, còn về con cháu của Người thì chưa có  sách vở nào nói đến.

Từ khi suy tôn người là biểu tượng tinh thần của dòng họ, Ban liên lạc họ Tô Việt Nam  đã dành nhiều thời gian nghiên cứu để tìm hiểu về những hậu duệ của Người và đã có thêm được nhiều tư liệu quan trọng:

1.Con trai Đức Tô Hiến Thành là Tô Trung Từ,

Ông là võ quan cao cấp của triều đình nhà Lý dưới triều Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông và đã được Lý Huệ Tông phong chức Thái uý phụ chính năm 1211.

Tô Trung Từ là con trai Đức Tô Hiến Thành không có sách vở nào nói đến nhưng chúng tôi chắp nối  tư liệu từ 2 cuốn sách. Sách “Triều Trần và con người thời Trần” của Viện Sử học và Hội khoa học lịch sử Việt Nam viết: “Vợ Trần Lý là con gái Thái uý Tô Hiến Thành”. Sách “Thái Bình với sự nghiệp triều Trần” của Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Thái Bình viết: “Vợ Trần Lý chính là chị gái viên quan đại thần nhà Lý là Thái uý Tô Trung Từ”. Như vậy rõ ràng Tô Trung Từ là con trai Đức Tô Hiến Thành.

Tô Trung Từ  có công bảo vệ Thái tử Xảm (sau này lên ngôi là Lý Huệ Tông) lúc Thái tử chạy loạn từ kinh thành về ở thái ấp của Tô Trung Từ ở đất Hưng Nhân. Tô Trung Từ đóng quân ở Nam Định, Hải Dương nhiều lần đem quân dẹp loạn ở Thanh Hoá, Thái Bình bảo vệ cung Ngự Thiên (Thái Bình) và bảo vệ kinh thành Thăng Long. Khi Lý Huệ Tông lên ngôi vua (1210) đã phong Tô Trung Từ làm Thái uý phụ chính. Năm 1211 thấy cảnh triều đình nhà Lý rối ren, đổ nát, Tô Trung Từ treo ấn từ quan về ở ẩn ở đất Vỵ Khê (xã Điền Xá, tỉnh Nam Định ngày nay) dạy cho dân làng trồng hoa, cây cảnh. Khi ông mất dân làng thờ ông làm ông tổ nghề trồng hoa cây cảnh. Hiện nay ở đình làng Vỵ Khê, bên ban thờ ông có đôi câu đối mà một vế là: “Tài thụ, chủng hoa, Tô tướng thuỷ” nghĩa là: Trồng cây, ươm hoa là nghề Tô tướng công khởi đầu.

Tháng 2 năm Giáp Dần (1374) Trạng nguyên Đào Sư Tích qua đây có đề thơ:

Dương Xá chi nam Bình Giã bảo

Tô công thứ nhất kiến gia cư

Hoa thôn Nguyễn ấp tòng tư thịnh

Thị quán, giang tân niệm thế sư

Đại ý là: Thành Bình Giã phía nam Dương Xá. Tô tướng công đã từng ở đây. Làm cho làng hoa Nguyễn ấp ngày càng thịnh vượng. Chợ búa, đò sông tấp nập, vui vẻ nhớ đến công ơn của Thầy.

Tô Trung Từ còn có công lớn với nhà Trần vì đã đưa nhiều người họ Trần từ Trần Lý, Trần Thừa, Trần Tự Khánh ( các con Trần Lý), Trần Thủ Độ vào làm quan triều Lý, giúp cho họ Trần phát triển thế lực sau này đoạt ngôi nhà Lý.

2. Con gái Đức Tô Hiến Thành là Tô Phương Lan

Bà là tổ mẫu của các vua nhà Trần. Sách “Triều Trần và con người thời Trần” viết là: “Vợ Trần Lý là con gái Thái uý  Tô Hiến Thành” tiếc là sách không cho biết tên người con gái đó nên chúng tôi phải đi tìm, mà hướng tìm là trong gia phả họ Trần.

Chúng tôi đã tìm gặp các ông Trần Ngọc Bảo, Trần Mạnh Quảng trong “Hội đồng Trần tộc” và được các ông cung cấp cuốn sách “Văn hoá họ Trần” xuất bản tháng 9 năm 2010 chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Trong đó có in phả hệ họ Trần. Trong phả hệ ghi rõ:

Trần Lý (1160 - 1210) sau được truy tôn là Nguyên tổ hoàng đế.

Thê là: Tô Phương Lan sau được truy tôn là Nguyên từ hoàng hậu.

Các con: Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung, Trần Thị Tam Nương.

Như vậy bà là thân mẫu của Thái thượng hoàng Trần Thừa, Kiến Quốc đại vương Trần Tự Khánh, Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung và là nhạc mẫu của Trần Thủ Độ.

Bà là Tổ mẫu (bà nội) của Trần Thái Tông Trần Cảnh, An Sinh vương Trần Liễu, Khâm Thiên vương Trần Nhật Hiệu. Bà là bà ngoại của Lý Chiêu Hoàng, Lý Thuận Thiên đều là Hoàng hậu của Trần Thái Tông và lại thành cháu dâu của bà.

Bà là cụ nội của Thánh Tông hoàng đế Trần Hoảng, Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn đại vương Trần Nhật Duật.

Và như vậy Đức Tô Hiến Thành là “ngoại tổ” của các vua nhà Trần.

Hai người con trai, con gái Đức Tô Hiến Thành là con bà trắc thất của Đức Tô, sinh ra và lớn lên tại thái ấp của Người ở huyện Hưng Nhân (Thái Bình). Còn con của phu nhân Lã Thị Kim Dung hiện nay chúng tôi chưa tìm hiểu được

3. Hai người cháu đời thứ 6 của Đức Tô (theo bản lý lịch di tích Lịch sử -Văn hoá đền Thượng Lao - Xối Thượng của Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Nam Định).

Vào đời Trần cháu tằng tôn của quan Thái phó Tô Hiến Thành là Tô Hiến Chương làm quan ở đất Gia Viễn - Ninh Bình vì sợ mưu sát nên đổi tên thành Tô Hiến Thái về sống ẩn dật tại làng Thượng Lao, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường nay là huỵên Nam Trực, tỉnh Nam Định lấy người con gái địa phương là Lê Thị Nga chuyên nghề thêu thùa dệt vải. Hai ông bà tính tình hiền hậu, hay làm phúc cứu người, đem nghề dệt vải dạy lại cho dân làng. Hiềm một nỗi hiếm muộn, tuổi đã ngoại tứ tuần mà chưa có con. Sau khi đến động Hương Tích cầu tự thì bà Lê Thị Nga hoài thai. Ngày mười tháng hai năm Ất Dậu (1345) năm thứ năm niên hiệu Thiệu Phong đời vua Trần Dụ Tông, bà Lê Thị Nga sinh đôi được hai bé trai mặt mũi khôi ngô tuấn tú, đặt tên chung là “Đồng”. Nhân vì hiếm hoi hoặc vì lý do nào đó cho con theo họ mẹ. Lớn lên đặt tên cho người anh là Lê Hiến Phủ, em là Lê Hiến Tứ. Hai anh em tư chất thông minh, học hành chăm chỉ, văn chương uyên bác, võ lược siêu phàm. Đi thi hương đỗ đầu khoa.

Mùa xuân tháng hai năm Giáp Dần (1374 niên hiệu Long Khánh năm thứ hai đời vua Trần Duệ Tông), Thượng hoàng Trần Dụ Tông về cung Trùng Hoa, phủ Thiên Trường (xã Lộc Vương ngoại thành Nam Định ngày nay) mở khoa thi Đình. Vì kiêng tên huý của Thượng hoàng là Trần Phủ, Lê Hiến Phủ đổi thành Lê Hiến Giản. Khoa thi đó Đào Sư Tích đỗ Trạng Nguyên, Lê Hiến Giản đỗ Bảng Nhãn, Trần Đình Thám đỗ Thám Hoa còn Lê Hiến Tứ đỗ Tiến sĩ.

Hai ông được bổ làm quan. Lê Hiến Giản làm quan đến chức Thị Lang đại học sĩ Tri thẩm Hình viện trông coi việc pháp luật. Lê Hiến Tứ làm quan Hạ đại phu được điều đi trấn thủ Cao Bằng, có công dẹp giặc vùng Quảng Nguyên nay là tỉnh Quảng Ninh (?) mà được phong chức Trung lang tướng và đánh dẹp giặc Chiêm Thành ở biên giới Tây Nam được phong chức Trấn Nam tướng quân.

Hai ông tuy làm quan đại thần trong triều nhưng vẫn quan tâm đến quê hương đã cho đào một con sông gọi là Đào giang để ghi nhớ công ơn thầy dạy học là trạng nguyên Đào Toàn Bân (sinh ra trạng nguyên Đào Sư Tích).

Sông bắt nguồn từ sông Hồng chỗ ngã tư Cổ Lễ, chảy qua huyện Nam Trực, Trực Ninh đổ vào sông Ninh Cơ gọi là cửa Bà Nữ, để cho thuyền bè đi lại dễ dàng.

Hai ông lại cho đào con ngòi bắt nguồn từ sông Đào giang chảy qua các cánh đồng quê hương Thượng Lao, Xối Thượng, Xối Tây, Xối Trì để dẫn thuỷ nhập điền làm cho đời sống nhân dân no đủ. Ông Lê Hiến Giản có thời gian trấn thủ ở phủ Thiên Trường đã lấn biển khai phá đất hoang vùng Giao Thuỷ, Xuân Trường. Một số làng ở đây đã lập đền thờ ông.

Lúc đó triều Trần đã bước vào thời kỳ suy vong. Quân Chiêm Thành thường hay sang quấy nhiễu cướp phá. Trần Duệ Tông thân chinh cất quân đi đánh dẹp, phong Lê Hiến Giản làm Đốc lĩnh trung quân, Lê Hiến Tứ làm Điều vận binh nhung sự. Tháng Giêng năm 1377 quan quân tiến quân vào cửa Thị Nại đánh lấy đồn Thạch Kiều, Ý Mang (đất Bình Định ngày nay). Vua Chiêm Chế Bồng Nga cho 1 viên quan nhỏ đến trá hàng nói dối là Chế Bồng Nga đã bỏ thành chạy trốn. Vua Trần Duệ Tông tưởng thật, không nghe lời khuyên của các tướng đem quân tấn công đã bị quân Chiêm Thành giết chết. Lê Hiến Giản, Lê Hiến Tứ đã thu thập tàn quân đánh lại và thắng lớn mới thu quân về.

Lúc đó Hồ Quý Ly được Thượng hoàng Trần Nghệ Tông tin dùng nên  chuyên quyền lấn át ngôi vua. Hồ Quý Ly đã xúi dục Nghệ Tông phế truất vua Xương Phù bắt thắt cổ chết (nên sau có miếu hiệu là Trần Phế Đế). Để trừ hậu hoạ, bảo vệ ngôi vua nhà Trần, Lê Hiến Giản đã sai người tâm phúc hành thích Hồ Quý Ly. Nhưng sự việc không thành Lê Hiến Giản bị Hồ Quý Ly xử trảm vào ngày 12 thág 12 năm Ất Sửu (1385). Nhà vua vô cùng thương tiếc đã cho quần thần đưa thi hài ông vào quan đồng quách đá; linh cữu được đưa bằng thuyền từ kinh thành Thăng Long  theo sông Nhị Hà vào sông Đào giang đưa về quê hương an táng và xây lăng mộ tại thôn Thượng Lao bên cạnh con ngòi lúc sinh thời ông đã cho đào. Bốn ngưòi hầu nữ quá thương xót ông đã nhảy xuống ngòi tự vẫn. Vì vậy con ngòi sau mang tên là “Mỹ nữ hàn khê”. Hiện nay trên cánh đồng Mưỡu, tại gò cao nhất vùng còn có lăng Bảng Nhãn, về hướng Tây có gắn tấm bia ghi dòng chữ “Cố Trần triều Bảng Nhãn Hiến Giản đại vương chi lăng”.

Lúc đó Lê Hiến Tứ đang làm quan ở đất Hưng Yên biết chuyện anh trai bị giết hại đã xuống thuyền trốn về núi Thần Thiệu (huyện Gia Viễn, Ninh Bình ngày nay), nơi trước đây cha ông là Tô Hiến Chương làm quan. Thời gian sau Hồ Quý Ly biết tin cho quân đến bắt. Lê Hiến Tứ đem số quân ít ỏi đánh nhau với tướng Nguyễn Sâm, biết mình không thể thoát được đã gieo mình xuống sông tuẫn tiết. Hôm đó là ngày 12 tháng 12 năm Bính Dần (1386) đúng một năm sau ngày Lê Hiến Giản bị sát hại. Hai ông được dân 4 xã Thượng Lao, Xối Thượng, Xối Tây, Xối Trì lập đền thờ (nên gọi là đền Tứ xã) hàng năm mở lễ hội vào ngày 10 tháng 8 âm lịch để ghi nhớ ngày hai ông đánh thắng quân Chiêm Thành.

Tương truyền vào năm Bính Ngọ (1426) Bình Định Vương Lê Lợi đem quân ra Bắc, khi qua địa phương hai ông hiển linh báo mộng. Năm 1428 sau khi đánh thắng quân Minh, Lê Lợi lên ngôi vua đã ban sắc phong cho hai ông làm “Thượng đẳng phúc thần”.

Vào đời Lê Chiêu Tông, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê. Thái tử cùng Thái uý Nguyễn Kim đem quân đến đóng ở trước đền Lê Hiến Tứ, đêm nằm mơ thấy Thần dâng mũ ngọc, xin giúp việc quân, sau quả ứng nghiệm. Khi Thái tử lên ngôi vua (Lê Trang Tông) gia phong cho Lê Hiến Tứ 4 chữ “Quan phục linh ứng”.

Đền thờ hai ông còn lại nhiều hoành phi câu đối và 14 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam..

Người đời sau đã tặng cho hai ông bốn chữ “Đồng” mà hiện nay nhân dân địa phương vẫn còn truyền tụng:

Đồng sinh  : Cùng sinh một ngày

Đồng khoa: Cũng đỗ một khoa

Đồng liêu   : Cùng làm quan một triều

Đồng tử      : Mất cùng một ngày

Vì một lý do nào đó hai ông mang họ mẹ, nhưng vẫn mang dòng máu họ Tô và vẫn mang cốt cách của Đức tiên tổ Tô Hiến Thành: Trung trinh bất khuất.

4. Cháu đời thứ 8 Đức Tô Hiến Thành, quận công Tô Chính Đạo

Quận công Tô Chính Đạo tên huý là Tô Văn Bảo sinh khoảng năm 1400 tại làng Bao Hàm, tổng Hổ Đội, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định. Là con ông Tô Huệ Ân, thuở nhỏ ham học văn võ song toàn. Thi đậu giải nguyên triều Lê Thái Tông (1434-1442) được bổ nhiệm chức Thanh Hoa thừa tuyên xứ sứ thần. Có lòng nhân ái độ lượng được nhân dân trong vùng kính trọng. Thời gian này Ngài được đặc phái đi đánh giặc Chiêm Thành ra quấy nhiễu vùng Nghệ An, lập công lớn được phong tước quận công.

Năm thứ 3 Quang Thuận - Hồng Đức (1461) ngài cùng đại thần Lê Công Bình phụng chỉ nhà vua Lê Thánh Tông đi chiêu dân lập ấp, khai phá lập các Sở đồn điền ở Nam phần Thanh Hoá gồm 3 huyện Nông Cống, Ngọc Sơn, Quảng Xương của phủ Tĩnh Ninh.

Ngài mất ngày 4 tháng Tư âm lịch không rõ năm nào. Hiện nay ở xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá có đền thờ quận công Tô Chính Đạo. Trong đền thờ có đôi câu đối ca tụng công đức của Ngài mà một vế là “Trung trinh hệ xuất Lý danh thần” chứng tỏ Ngài là dòng dõi danh thần nhà Lý tức Tô Hiến Thành.

Quận công Tô Chính Đạo có 2 phu nhân:

- Chính thất phu nhân Lê Lệnh thị hiệu Hoa Tiên người Đông Quan, Thái Bình ở lại quê chồng làng Bao Hàm sinh hạ 4 trai, 2 gái truyền nối dòng họ Tô Bao Hàm ngày nay.

- Trắc thất phu nhân Lê Lệnh thị hiệu Từ Tôn người Thuỵ Anh, Thái Bình cùng chồng vào Thanh Hoá ở lại làng Đồn Điền sinh hạ 5 trai, 1 gái truyền nối  dòng họ Tô làng Đồn Điền, xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.

Từ đó kết luận là 2 chi họ Tô làng Bao Hàm (Thái Bình) và làng Đồn Điền (Thanh Hoá) là 2 chi họ anh em, là hậu duệ của Quận công Tô Chính Đạo cũng là hậu duệ của Thái uý Tô Hiến Thành.

Hai chi họ này cho đến tận ngày nay đã sinh ra nhiều người có công với dân với nước như Tô Trung Thành cháu 5 đời của Tô Chính Đạo là quan chỉ huy hải quân của triều đình nhà Lê đã lập nhiều chiến công hiển hách; cử nhân (Hán học) Tô Thế Mỹ, Án sát tỉnh Khánh Hoà, sau cách mạng Tháng 8 năm 1945 làm Chủ tịch lâm thời tỉnh Nghệ An sau làm Chủ tịch uỷ ban MTTQ tỉnh Nghệ An; Tô Vĩnh Diện liệt sỹ anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lấy thân mình chèn pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ; Tô Huy Rứa, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong buổi lễ trọng thể kỷ niệm 910 năm ngày sinh Đức Tô Hiến Thành (1102-2012) hôm nay, chúng tôi xin cung cấp thêm một số tư liệu về những hậu duệ của Đức Tô Hiến Thành, những người tiếp nối truyền thống và làm rạng danh tiên tổ.

 Tô Bỉnh

Share:

Thái úy Tô Hiến Thành bậc đại công thần triều Lý

 


Tô Hiến Thành là một danh nhân kiệt xuất về chính trị, quân sự và văn hóa của đất nước. Ông có nhiều công trạng to lớn với đất nước, đặc biệt với vương triều Lý đang chuyển dần từ thời thịnh trị sang suy yeu, bắt đầu từ giữa thế kỉ XII. Là bậc đại thần nhà Lý, về nội trị ông đã trực tiếp giúp hai vua Anh Tông và Cao Tông còn rất non trẻ, trị vì và điều hành đất nước về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa.

Tô Hiến Thành sinh ra trên đất Thăng Long, quê quán tại xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng. Ông là con của Phủ doãn Tràng An là Tô Trung và bà Nguyễn Thị Đoan. Ông đỗ Thái học sinh khoa Mậu Ngọ (1138) niên hiệu Thiệu Minh nguyên niên đời Lý Anh Tông. Tô Hiến Thành sống và làm quan dưới hai triều vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông, từng chứng kiến nhiều sự thăng trầm của vương triều nhà Lý.

Dưới triều vua Lý Anh Tông, sử chép rằng: Trong việc phế lập vua không mê hoặc lời nói của đàn bà, ký thác được người sự chính hiền tài, có thể nói là không hổ thẹn với việc gánh vác. Song không phân biệt được kẻ gian tà, hình phạt không sáng suốt, cho nên trời giáng xuống tai biến để răn, giặc cướp nổi lên, giếng mối rối loạn, không thể nói xiết. Tình hình đó đã nảy sinh tình trạng hình phạt không sáng suốt. Thời kì này các tranh chấp trong dân về ruộng đất đã diễn ra khá thường xuyên và có phần gay gắt. Trong khi đó các thế lực chống đối nhà Lý liên tiếp nổi lên. Theo Việt sử tiêu án của Sử gia Ngô Thì Sĩ, năm 1140, Thân Lợi vốn là con của vua Lý Thần Tông, tập hợp đồ đảng hơn 800 người từ vùng Phú Bình (Thái Nguyên) tiến đánh xuống phía Nam. Năm sau, Thân Lợi tự xưng vương, phong hoàng hậu, lập quan tước, chiêu tập thêm binh lính đánh xuống. Triều đình cử quan quân đi đánh dẹp không được, về sau chính Tô Hiến Thành đã bắt được Thân Lợi, giao cho Đỗ Anh Vũ giải về kinh thành.

Ngoài ra còn có các cuộc làm phản của người Sơn Lão ở Chàng Long và Đại Hoàng Giang (Ninh Bình) vào năm 1154, người Ngưu Hống và Ai Lao (1159) của đông đảo binh lính, rồi quân Chiêm Thành đến cướp bóc.

Như vậy đất nước Đại Việt dưới triều Lý Anh Tông đã lâm vào cuộc khủng khoảng với nội tình không yên, bên ngoài uy hiếp, thiên tai liên tiếp xảy ra... Tô Hiến Thành đã lớn lên, làm quan và thi thố tài năng trong điều kiện kinh tế chính trị - xã hội đầy khó khăn và phức tạp.

Sử còn ghi, năm 1175, khi vua Lý Anh Tông sắp mất, gửi gắm Thái tử Long Cán cho Tô Hiến Thành giúp đỡ. Ông được phong làm Nhập nội kiểm hiệu Thái phó bình chương quân quốc trọng sự, vương tước. Từ tháng 4 năm 1175, Tô Hiến Thành được thay vua nắm quyền nhiếp chính sự. Khi Long Cán lên ngôi, phong Tô Hiến Thành làm Thái úy.

Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Sử gia Ngô Sĩ Liên từng bàn rằng: Tô Hiến Thành nhận việc ký thác con côi, hết sức trung thành, khéo xử trí khi biến cố, như cột đá giữa dòng, tuy bị sóng gió lay động mà vẫn đứng vững không chuyển, khiến trên dưới thuận, không thẹn với phong độ của đại thần đời xưa.
Sử thần Ngô Thì Sĩ thì cho ông là bậc bề tôi của xã tắc.

Còn Lịch triều hiến chương loại chí, mục Nhân vật chí thì liệt Tô Hiến Thành vào bậc phò tá hiền tài có công lao lớn. Còn các sử thần triều Nguyễn trong Việt sử thông giám cương mục có lời nhận định rằng: Sau Gia Cát Vũ hầu chỉ có một người ấy thôi”.

Công lao của ông trước hết thể hiện trong công cuộc xây dựng nền văn hóa của thời đại.

Việt sử thông giám cương mục còn ghi: Hồi đầu đời Lý, Văn miếu thờ chung cả Chu Công và Khổng tử. Đến năm 1156, Tô Hiến Thành xin lập miếu riêng để thờ Khổng Tử. Nhà vua y theo lời: lập miếu Khổng Tử ở phía Nam thành Thăng Long. Việc lập riêng Văn Miếu thờ riêng Khổng Tử, không thờ chung với Chu Công Đán - công thần phò tá Vũ Vương nhà Chu đã thể hiện được tinh thần tự cường của dân tộc. Với sự việc to lớn này, Tô Hiến Thành được coi là một vị đại thần trong văn hiến, được quốc sử trân trọng khi ghi chép. Từ đây Nho học dần được mở mang, nhân tài có nơi thể hiện, nền văn hiến Đại Việt được xây dựng và phát triển. Đây là một chi tiết rất quan trọng khẳng định tư cách nhà Nho của Tô Hiến Thành.

Viết về lễ nghi thời Lý, Phan Huy Chú cho biết: “Quan chế triều Lý đại lược văn võ đều có 9 phẩm. Lấy 3 chức Thái, 3 chức Thiếu, cùng Thái úy, Thiếu úy và nội ngoại hành điện Đô tri sự, kiểm hiệu bình chương sự, đều làm chức trọng yếu của văn võ đại thần”. Trong những chức danh thuộc hàng đại thần như vậy thì Tô Hiến Thành đã từng gánh vác bốn, năm trọng trách khác nhau và ở cương vị nào, thời điểm nào ông cũng trụ vững với lòng trung trực.

Công lao lớn của ông còn thể hiện ở việc tham gia và chỉ huy trấn dẹp các cuộc nổi loạn trong nước và đẩy lui các cuộc xâm lấn của Chiêm Thành, giữ vững an ninh và chủ quyền của đất nước thời đó. Sử còn ghi: Tháng 10 năm Đại Định thứ 2 (1141) triều đình sai Đỗ Anh Vũ đem đại quân đi đánh Thân Lợi ở châu Lục Lệnh, bắt được bè đảng tới hơn 2000 người. Thân Lợi trốn sang châu Lạng, bị Thái phó Tô Hiến Thành bắt được và giao cho Đỗ Anh Vũ đóng cũi giải về kinh sư. Cuộc nổi loạn chấm dứt.

Tháng 5 năm Đại Định thứ 20 (1159) người Ngưu Hống và Ai Lao làm phản, Tô Hiến Thành nhận lệnh đi trấn dẹp, bắt được nhiều người, trâu bò ngựa và vàng bạc châu báu. Do có công này nên được phong làm Thái úy.

Cùng với việc dẹp trừ nội phản và ngoại phản, Tô Hiến Thành còn có nhiều công lao trong việc củng cố triều đình, xây dựng nhà nước vững mạnh, đoàn kết để chống lại giặc ngoại xâm. Với các vai trò là Nhập nội kiểm hiệu, Thái phó, Thái úy, rồi làm Quyền nhiếp chính sự. Vai trò nào ông cũng hoàn thành xuất sắc.

Công lao của ông còn thể hiện ở việc duy trì lệ cũ, đổi niên hiệu vua: Sử còn ghi, vua Lý Cao Tông lên ngôi từ tháng Bảy nam Ất Mùi (1175) đến tháng Giêng năm Bính Thân (1176) mới đổi niên hiệu vua, đại xá cho thiên hạ. Đó là vì có Tô Hiến Thành phụ chính, biết trở lại lễ cổ.

Cùng với các quần thần triều Lý, ông có công chấn chỉnh các hoạt động của triều đình: Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Hiến Thành lãnh cấm binh, nghiêm hiệu lệnh, thưởng phạt công bang, người trong nước đều quy phục.

Khi sắp mất, Tô Hiến Thành đã đề nghị với Thái hậu chọn Gián nghị đại phu Trần Trung Tá làm phụ chính thay ông, vì lòng trung với nước, vì việc đại sự của triều đình, phân biệt rất rõ lý trí và tình cảm.

Công lao của Tô Hiến Thành và tầm vóc của ông có thể sánh với Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành triều Lý, góp phần xây dựng vương triều đầu tiên định đô trên đất Thăng Long. Sử cũ cũng ghi rằng, sau khi Tô Hiến Thành mất, nhà vua đã giảm ăn ba ngày, nghỉ thiết triều 6 ngày để tỏ lòng thương tiếc ông.

Khi ông mất đi, nhiều nơi tôn vinh ông làm Phúc thần, nhiều nơi thờ ông làm Thành hoàng, còn quê hương Hạ Mỗ ở Đan Phượng thì tôn ông làm chủ thần điện Văn Hiến đường. Văn bia ở Văn Hiến đường, dựng vào năm Bảo Đại thứ 3 (1928) còn ghi rằng: Công trạng của Ngài còn mãi với đất nước, ân trạch của Ngài còn mãi với xóm thôn, anh linh của Người còn mãi trong trời đất”. Nhiều nơi trên cả nước như Hà Nội, Hải phòng, Bắc Ninh, Hải Dương, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An... đã lập đền thờ để ghi nhớ công ơn của ông với đất nước, với quê hương.

                                                                                       NGỌC BÍCH

                                                                               (Tạp chí TH Hà Nội số 91)

Share:

Tộc ước

 Truyền thống của dòng họ Tô Mỹ Nội là lấy tinh thần “TƯƠNG THÂN, TƯƠNG ÁI” làm phương châm xử thế. Tộc ước của dòng họ cũng dựa trên cơ sở truyền thống đó, quán triệt luật pháp của Nhà nước và những quy định hiện hành của địa phương, được toàn thể thành viên trong họ tự nguyện tuân thủ gia pháp này.

         Mục đích muốn nhắc nhở con cháu chúng ta sau này (không phân biệt sang hèn, giai cấp, giới tính, tôn giáo,…) để biết mình từ đâu mà có? Dòng họ bà con cuộc sống ra sao?

         Cùng nhau tuân thủ một vài điều ước định (tuy nhỏ nhưng xem chừng cũng khó thưc hiện):

Tộc ước của gia tộc Họ Tô Mỹ Nội bao gồm các điều sau đây:

I. Thành viên dòng họ  Tô Mỹ Nội:

1. Mọi người không phân biệt già trẻ, gái trai, nơi cư trú, có chung thủy tổ thuộc dòng họ Tô Mỹ Nội đều là thành viên họ tộc họ Tô Mỹ Nội. Là thành viên của dòng họ Tô Mỹ Nội phải biết đặt “lợi ích Họ tộc” lên trên lợi ích cá nhân, gia đình, chi tộc, để mãi mãi xứng đáng là “con cháu dòng họ Tô Mỹ Nôi”.

2. Tất cả đều theo Phổ hệ của Ông Bà – Tổ Tiên để lại. Việc này là cần thiết để duy trì tôn ti trật tự của dòng họ, tránh sự chia rẽ mất đoàn kết.

3. Đoàn kết giúp lẫn đỡ lẫn nhau theo khả năng, giữ gìn gia phong và truyền thống tốt đẹp của họ.

4. Dù có làm gì, ở đâu luôn nhớ rằng dòng họ Tô Mỹ Nội là dòng họ Nhân kiệt – Nề nếp – Gia phong lấy đó mà tự hào, mà phấn đấu vươn lên – Quyết không làm điều gì tổn hại đến thanh danh dòng tộc.

5. Cố gắng gặp gỡ để khỏi quên nhau khi có dịp.

6. Theo dõi và truyền bá tin tức của nhau, cho bà con biết lúc cần.

7. Đoàn kết giúp lẫn đỡ nhau theo khả năng, làm sáng danh dòng họ.

8. Lấy tinh thần “TƯƠNG THÂN, TƯƠNG ÁI ” làm phương châm xử thế.

9. Con cháu ở xa thì nên lập bàn thờ vọng.

II. Xây dựng con người:

1. Phải có tri thức: Mọi việc ở đời từ xây dựng bản thân, xây dựng gia đình, quê hương, xã hội đều bắt đầu từ con người. Con người như thế nào, thì gia đình, tộc họ, quê hương sẽ như thế ấy. Tuy nhiên khi mới sinh ra tuyệt nhiên không ai có thể biết được ngay tất cả mọi thứ mà phải lấy học làm đầu. Không học, không thể có tri thức hoàn chỉnh. Vì vậy trong dòng tộc họ Tô Mỹ Nội mọi người từ trai gái, già trẻ , giàu nghèo đều phải học.

2. Phải trau dồi đạo đức: Đó là đạo làm người. Phải chí công vô tư, phải lo trước cái lo của dòng tộc, phải hưởng sau cái hưởng của cả dòng Tộc. Con người phải rèn luyện nhân cách, phải có đức, có tài. Đối với bản thân, với gia đình, ông bà , cha mẹ , vợ chồng, dòng tộc tất cả đều phải lấy “Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín” làm gốc.

3. Phải có thể lực: Có thể lực khoẻ mạnh mới có trí tuệ minh mẩn. Tuỳ theo lứa tuổi mà nuôi dưỡng, mà rèn luyện xây dựng cuộc sống thanh khiết, mọi đam mê đều không nên thái quá.

4. Phải trau dồi tài nghệ: Dù lao động chân tay hay lao động trí óc điều cốt lõi là phải có chí trau dồi, chuyên tâm, tìm tòi và phái huy mặt mạnh của mình.

III. Dựng vợ gả chồng – Xây dựng gia đình hạnh phúc:

Hôn nhân là khởi điểm của gia đình, là sự phát triển của dòng tộc, nó ảnh hưởng đến tương lai của gia đình và cả dòng tộc vì vậy:

1. Con trai, con gái phải chọn lựa lứa đôi. Được cha mẹ hai bên đồng tình, không ép buộc bán gả vì danh vọng địa vị tiền tài.

2. Phải đăng ký kết hôn trước khi tổ chức hôn lễ tuân theo Luật Hôn nhân gia đình của  Nhà nước.

3. Phải có cuộc sống tự lập, có nghề nghiệp ổn định (cả trai lẫn gái).

4. Trong cuộc sống phải hiểu nhau , nhường nhịn nhau.

5. Không cưới hỏi linh đình. Lấy thuận vợ, thuận chồng làm nền tảng của gia đình.

IV. Quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình:

Đối với dòng tộc họ Tô Mỹ Nội: Tam đại, Tứ đại đồng dưỡng đó là truyền thống quý báu, đó là gia đình đại phúc. Muốn được như vậy phải:

1. Làm con hiếu (cả trai và gái) làm dâu hiền rể thảo, làm cháu phải tôn kính ông bà, là ông bà phải là tấm gương soi.

2. Lấy “Thập ân phụ mẫu ” làm nội dung trong mối quan hệ đối với ông bà cha mẹ.

3. Là con là cháu luôn suy nghĩ đã làm được gì để báo đáp thâm ân. Đã làm việc gì dù nhỏ nhất cũng không làm cho cha mẹ buồn khổ.

4. Làm ông bà cha mẹ, lấy tấm gương nhân hậu, lòng vị tha để con cháu noi theo.

V. Mối quan hệ gia đình với Tộc họ:

1. Nói đến gia tộc là nói cùng một huyết thống từ đời này qua đời khác, có thể sống trong một làng, một huyện, một tỉnh, trong phạm vi cả nước hay ở nước ngoài.

2. Trong tộc ước này chủ yếu nói về quan hệ gia đình với cả một dòng tộc họ Tô Mỹ Nội có nhiều chi nhánh. Một Chi thường hình thành truyền thống như: Hiếu học, nghề Thầy, nghề Thuốc, nghề mộc ..v.v. Con cháu từng gia đình phải hiểu truyền thống, kế thừa xứng đáng truyền thống Chi mình.

3. Là con cháu của dòng tộc phải có trách nhiệm chung lo trong các ngày xuân thu lễ hội , chạp mả, trong các việc tang hiếu.

4. Mọi sự bất hoà nên dàn xếp trong dòng họ thấm tình máu mủ, ruột rà, lấy truyền thống nhân nghĩa mà giải quyết việc bất hoà.

VI. Mối quan hệ gia đình với các Tộc họ khác:

Bao đời dòng tộc họ Tô Mỹ Nội làm ăn, sinh sống cùng với nhiều dòng tộc khác và cũng từ đó mới nảy nở các quan hệ giao lưu tình cảm, giao lưu văn hoá giữa các thế hệ thanh niên trong các tộc họ mà hình thành nhân duyên. Cho nên nhiều đời, dựng vợ gả chồng giữa nam, nữ thanh niên các tộc họ với nhau. Từ đó hình thành mối quan hệ Nội – Ngoại. Ở đâu cũng là bà con, phía nào cũng là anh em, tạo cho tình làng, nghĩa xóm, cho quan hệ dòng tộc họ Tô Mỹ Nội với các dòng tộc khác thành mối quan hệ thân thiện.

1. Quan hệ giữa các tộc họ tạo nên tình đoàn kết keo sơn, tình làng nghĩa xóm sâu đậm. Các thế hệ dòng họ Tô Mỹ Nội cần nhận rõ điều này mà trân trọng giữ gìn cho Tộc ước một nét đẹp truyền thống.

2. Tất cả đều là anh em, là bà con nội ngoại, mọi quan hệ, mọi bất đồng xảy ra dựa trên cơ sở đó mà giải quyết.

3. Trân trọng các mối quan hệ trong cuộc sống như: tang ma, cưới hỏi, giổ chạp, xuân thu.

VII. Lễ Hội:

Tộc họ Tô Mỹ Nội bao đời đều có lễ hội, đó là một trong những nét đẹp truyền thống văn hoá của dòng tộc mang đậm đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây “.


1. Thọ Tang (Lễ Tang): Đó là việc hiếu , đó là nỗi đau buồn thương tiếc cho nên mọi việc đều theo tinh thần đó. Tổ chức tang lễ theo nghi thức của gia phong, qui định của địa phương. Ở với ông bà cha mẹ suốt cả cuộc đời, xung quanh có họ hàng, làng xóm có hiếu đến đâu mọi người đều biết, không có đám tang to, tang nhỏ, mà chỉ có đám tang “Báo đáp thâm sâu, tình làng nghĩa xóm“.

2. Giỗ kỵ ông bà cha mẹ: Mục đích giỗ kỵ là để tưởng nhớ công ơn ông bà cha mẹ – Ôn lại cuộc đời ân đức , nhắc nhở con cháu noi gương, đó là “Phúc Đức lưu Tử Tôn”. Dù có khả năng nhiều hay ít cũng không nên tổ chức quá tốn kém mà cốt là ở lòng thành kính.

3. Cưới hỏi: Một đời chỉ có một lần. Đây là lần ấn tượng sâu sắc trong cuộc đời đôi vợ chồng trẻ, đây là việc hỷ cho nên cần phải thanh lịch – tiết kiệm. Đó là phương châm của lễ tân hôn cho mọi gia đình, không nên “ăn một giờ ba năm trả nợ”. Hạnh phúc lứa đôi gắn liền với trách nhiệm “Dâu hiền , Rể thảo” đối với gia đình dòng họ.

4. Tân gia: Ông cha ta có kinh nghiệm dựng vợ gã chồng thì cho ra riêng. Đó là điều hoàn toàn đúng thúc vì nó đẩy tự lập cho con cái. Tân gia là cái mốc quan trọng của cuộc đời, dù cha mẹ hai bên có tạo bao nhiêu thuận lợi vẫn phải lấy sức lực cả vợ lẫn chồng tạo nên tân gia mới quý trọng, mới bền vững.

VIII. Quỹ Họ Tộc:

1. Xây dựng quỹ họ: Việc xây dựng quỹ họ được các thành viên trong họ bàn bạc dân chủ thống nhất, tự nguyện đóng góp. Những người được đóng góp vào quỹ của họ là tất cả các thành viên nam giới của họ Tô Mỹ Nội có độ tuổi từ 18 trở lên. Mức này có thể thay đổi theo từng thời kỳ nhưng phải được tất cả các thành viên trong họ bàn bạc thống nhất. Ngoài ra các con cháu đang sinh sống ở mọi miền đất nước và ở nước ngoài có thể đóng góp công đức cho quỹ họ.

2. Chi tiêu quỹ họ:

Quỹ họ được dùng vào các việc sau:

– Xây dựng, sửa chữa lăng mộ chung của cả họ.

– Dùng vào việc thờ cúng.

– Khuyến khích con em trong họ học giỏi đỗ đạt cao.

– Thăm hỏi người ốm đau và các đám hiếu trong họ.

Những điều qui ước trên, cứ thế truyền mãi từ đời này đến thế hệ mai sau, chắc chắn dù ở xa nhau, ta cũng có thể biết rõ được một phần nào.

  
 
(Ban biên soạn Tộc ước, đại diện: Tô Văn Phát - Trưởng họ)
Share:

Bài phổ biến

Được tạo bởi Blogger.

Nhận xét mới

Bài mới đăng