Đây là Blog của dòng họ Tô Mỹ Nội, nơi con cháu dòng họ tìm về cội nguồn tổ tông của mình...

Ngày giỗ của cộng đồng gia tộc họ Tô Việt Nam và họ Tô Mỹ Nội

 

Ngày giỗ của cộng đồng gia tộc họ Tô Việt Nam và họ Tô Mỹ Nội

Hàng năm, cứ đến ngày giỗ của các Cụ, con cháu trong dòng họ lại có cơ hội được gặp gỡ, giao lưu, quây quần ấm cúng bên nhau, vừa tăng thêm tình đoàn kết gắn bó anh em dòng tộc vừa cùng nhau chia sẻ buồn vui trong cuộc sống.

Số TTNgày (âm lịch)Chi họĐịa điểm
113 - 2HTVNThần Long Đỗ - Tô Lịch
212 - 6HTVNĐức Tô Hiến Thành
38 - 5Cụ Tổ Ông - Họ Tô Mỹ NộiMỹ Nội - xã Bắc Hồng - Huyện Đông Anh - Hà Nội
412 - 12Cụ Tổ Bà - Họ Tô Mỹ NộiMỹ Nội - xã Bắc Hồng - Huyện Đông Anh - Hà Nội

Share:

Hội đồng Họ Tô thôn Mỹ Nội

 

Hội đồng Họ Tô thôn Mỹ NộiĐời-Cành
Họ và tên : Tô Minh Trường

Chức vụ : Hội đồng họ Tô Mỹ Nội

   Mỹ Nội, Bắc Hồng, Đông Anh, Hà Nội

   09
Đời 7 - Cành 1
Họ và tên : Tô Văn Hải

Chức vụ : Hội đồng họ Tô Mỹ Nội

   Số nhà 

   09
Đời 6 - Cành 1

Họ và tên : Tô Quang Đoàn

Chức vụ
 : Hội đồng họ Tô Mỹ Nội

   Mỹ Nội, Bắc Hồng, Đông Anh, Hà Nội

   091
Đời 7 - Cành 3
Họ và tên : Tô Văn Phát

Chức vụ : Hội đồng họ Tô Mỹ Nội - Trưởng họ - Trưởng Cành 1

   Mỹ Nội, Bắc Hồng, Đông Anh, Hà Nội

   091
Đời 7 - Cành 1
Họ và tên : Tô Văn Quảng

Chức vụ
 : Hội đồng họ Tô Mỹ Nội 

   Mỹ Nội, Bắc Hồng, Đông Anh, Hà Nội

   091
Đời 7 - Cành 1
Họ và tên : Tô Văn Bản

Chức vụ
 : Hội đồng họ Tô Mỹ Nội 

   Mỹ Nội, Bắc Hồng, Đông Anh, Hà Nội - Trưởng Cành 2

   091
Đời 7 - Cành 2
Share:

Các Tiến sỹ Nho học Họ Tô Việt Nam

 1.Tô Hiến Thành  蘇憲誠(1102 – 1179), người trang Phú Lộc, hương Ô Diên,phủ ỨngThiên, trấn Sơn Tây, nay là cụm 3, thôn Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Hà Nội. Theo sách “Từ Liêm huyện đăng khoa chí” do Cử nhân Bùi Xuân Nghi biên tập thời Tự Đức thì Tô Hiến Thành từng đỗ khoa thi Minh kinh bác học(Tiến sỹ) khoa Mậu Ngọ (1138) đời vua Lý Thần Tông. Thông tin này cũng được dẫn trong các tài liệu “Bản phủ tiền triều chư danh khoa bi” và bia Văn chỉ huyện Từ Liêm dựng năm Tự Đức thứ 25 (1872).

Làm quan tới chức Nhập nội Kiểm hiệu Thái phó bình chương quân quốc trọng sự (Tể tướng) và được phong tước Trung tiết vương, mặc dù ông không phải là hoàng thất nhà Lý. Ông là người đề xuất và xin bãi bỏ khoa thi Minh kinh bác học, thay bằng khoa thi văn hóa để tìm người hiền tài, mãi đến đầu thời nhà Trần mới được thực hiện.

2.Tô Kim Bảng 蘇金榜(? - ?) người xã Tá Lan, tổng Thủy Đường, huyện Thủy Đường, nay là thôn Tả Quan, xã Dương Quan, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Đoan Khánh 4 (1508) đời Lê Uy Mục. Làm quan đến chức Hàn lâm viện hiệu thảo.

3.Tô Trí Cốc 蘇智穀(1548 - ?) người xã Trâm Khê, huyện Tiên Minh (nay là thôn Trâm Khê, xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng). Năm 41 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Bính Tuất, niên hiệu Đoạn Thái 1 (1586) đời Mạc Mậu Hợp. Làm quan đến chức Giám sát ngự sử.

4.Tô Thế Huy 蘇世輝(1666 - ?) người xã Bằng Đắng, huyện Bạch Hạc (nay là thôn Phong Doanh, xã Bình Dương, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc). Năm 32 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hòa 18 (1697) đời Lê Hy Tông. Được cử đi sứ sang nhà Thanh. Làm quan đến chức Tả thị lang, tước Cảo Quận công. Ông vốn giỏi về chiêm tinh, khi vào điện Kinh diên thường giảng sách cho vua. Bị triều thần biếm chức. Sau khi mất được truy tặng Công bộ Thượng thư.

Cuối đời, ông về trí sỹ tại quê và tiếp tục công việc tàng thư mà ông có dịp lưu trữ từ khi làm quan ở bộ Lễ. Ông xây ở sau vườn nhà một ngôi nhà gỗ ba gian lợp ngói, gọi là vân đài để chứa sách. Trong số đó, hầu hết là cất giữ thần phả của các làng xã ở miền đồng bằng và Trung du Bắc bộ. Ông mất ngày 24 tháng 04 (chưa rõ năm).

Thơ văn của ông còn lại có bài ký Phụng tự La công sinh từ bi ký (bia sinh từ hệ La ở xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang). Một bài tựa viết cho sách Quần hiền phú tập vào năm Bảo Thái 10 (1728). Bài trướng mừng Tiến sỹ Nguyễn Bá Lân thi đỗ có tiêu đề Cổ Đô thượng thư quan đăng Tiến sỹ hạ tập, chép trong sách Bách Liêu thi văn tập.

6.Tô Trân 蘇珍(1791 - ?) người xã Hoa Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên. Sinh năm tân Hợi, cử nhân khoa Ất Dậu (1825). Năm 36 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Bính Tuất, niên hiệu Minh Mạng 7 (1826). Năm 1860 về trí sỹ.

Sau khi đỗ, được bổ chức Hàn lâm Biên tu, thăng bổ Tuần phủ Định Tường (1833). Do vụ Lê Văn Khôi làm phản, ông bị cách chức, rồi được khởi phục chức Án sát sứ Thái Nguyên (1841), thăng Thái bộc tự khanh (1842) sung Toản tu Sử quán. Đầu đời Tự Đức được thăng Tả tham chi bộ Lễ, sung Kinh diên giảng quan. Năm 70 tuổi xin về hưu, ít lâu sau mất tại quê nhà.

          Tô Trân có tiếng là thanh liêm, nghiêm cẩn. Khi đến lỵ sở trấn Thái Nguyên, lại thuộc có kẻ tham nhũng, bất chính. Ông mới đến đã nghe nhiều dư luận không hay, nên khi kẻ ấy xin vào yết kiến, ông không cho vào, kẻ ấy phải thác bệnh đi trốn. Trong thời gian ở Thái Nguyên, ông biết xứ này văn học kém phát triển, nên thường tụ tập các học trò bình giảng thơ văn để khích lệ sỹ tử.

Tác phẩm: Minh mệnh chính yếu (biên tập); Sáng tác thơ văn có Nam hành tập và Bắc hành tập.

Lúc thành Định Tường (các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Đồng Tháp ngày nay)bị vây hãm, Tô Trân làm một bài thơ rồi lẩn đi. Bài thơ đó như sau:

Phiên âm Hán-Việt:

Dục bãi bất năng chử vũ dương,

Phân điền, phân thổ, bất phân vương.

Gia ưng hữu thất hà tu thỉ.

Lễ bất cầu phong chỉ dụng dương.

Đạt đắc chúng nhân suy hạnh xuất

Thao tồn nhất thủ tự vô đương.

Ngư du thảo hạ hòa biên ổn.

Ngọc chẩn di xa tụy nhất đường.

     Bản dịch:

     Muốn thôi, cánh liệng, chẳng cho thôi,

     Xẻ đất, quyền vương chẳng xe đôi.

     Không lợn, đã nhà nề nếp sẵn,

     Có dê chưa hậu, lễ nghi rồi.

     Nhiều người khen đạt mình may thoát,

     Còn một tay thao việc khó trôi!

     Cá tựa lúa êm bơi dưới cỏ,

     Xe về nhà ngọc họp đầy vơi.

Bài thơ luật Đường bằng chữ Hán trên, theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì "ngoài ý từ biệt tỉnh Định Tường về quê nghỉ, tác giả đã có tài xuất sắc là dùng tám câu thơ, mỗi câu tả tự dạng một chữ, có trật tự rõ ràng, thành tám chữ "Thư lý Định Tường Tuần phủ Tô Trân" (nghĩa là tạm quyền chức Tuần phủ tỉnh Định Tường Tô Trân). Mỗi câu về cách tả tự dạng chiết tự của mỗi từ đề trình bày rõ ý nghĩa cả câu. Đây là một bài thơ vừa có nghệ thuật hội họa, vừa có giá trị nghệ thuật thơ”.

7.Tô Huân 蘇熏(1826 - 1896) người xã Hoa Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên). Cháu Tô Hiền. Sinh năm Bính Tuất, cử nhân khoa Nhâm Tý (1852).

          Năm 43 tuổi đỗ Phó bảng khoa Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức 21 (1868). Phó quản đạo Hà Tĩnh. Vì quân Pháp chiếm thành, ông bị cách chức. Sau được phục chức Đốc học Hải Dương.

Nhà thơ Ngọc Tô

Share:

Đôi điều về Họ Tô Việt Nam và Thủy tổ Tô Lịch

 Những kết quả khảo sát và nghiên cứu gần đây cho thấy từ rất sớm trên đất nước ta đã có các cư dân mang Họ Tô. Theo tấm bia đá tại đình làng Doãn Thượng, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thì cách ngày nay hơn hai ngàn năm, Đinh Công Bách, một vị Lạc tướng kiệt xuất của Hùng Duệ Vương (tức là Vua Hùng thứ 18), đã kết duyên cùng người con gái Họ Tô là Tô Thị Nghi và sinh được hai con là Đinh Quang và Đinh Bảo Nương. Nhiều sách cổ của nước ta và cả của Trung Quốc đã kể đến Tô Lịch, một quan chức địa phương sống vào khoảng cuối Thế kỷ thứ 3 đầu Thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên. Đầu Thiên niên kỷ thứ II xuất hiện Tô Hiến Thành, một vị Thái úy, Thái sư mẫu mực thanh liêm, tài cao, đức trọng dưới triều Lý.

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, số lượng người Họ Tô không ngừng tăng lên từ những mạch nguồn khác nhau như sự sinh sản tự nhiên, sự chuyển đổi giữa Họ Tô với một số họ khác và một phần còn do sự nhập cư từ các nước láng giềng, lập nên một trong những dòng họ Việt Nam. Theo kết quả một công trình nghiên cứu đã được công bố thì hiện nay Họ Tô được xếp hàng thứ 22 trong số các dòng họ về số lượng nhân khẩu. Áp dụng phương pháp ngoại suy có thể ước tính được số người Họ Tô là hàng trăm ngàn người. Con số này chưa thể chính xác và còn mang tính chất phỏng đoán. Việc tập hợp số liệu thống kê cụ thể từ cơ sở sẽ cung cấp một bức tranh đầy đủ và chính xác hơn.

Một trong những kết quả quan trọng của công cuộc Chắp nối dòng họ - Tìm về cội nguồn tiến hành suốt hơn 20 năm qua là đã xác định được hơn 400 chi Họ Tô tại gần 50 tỉnh, thành phố. Đó là các cộng đồng tương đối ổn định của những người Việt Nam mang Họ Tô sinh sống trên cùng một địa bàn, có cùng huyết thống, cùng nguồn cội, có mộ tổ, nhà thờ và nhiều khi có cả gia phả (Họ Tô Bao Hàm, Họ Tô Đồn Điền, Họ Tô Thượng Tầm, Họ Tô Quỳnh Thuận, Họ Tô Ngư Lộc đều có gia phả từ rất lâu). Trong một số trường hợp, các chi họ cư trú cách xa nhau, nhưng lại  có quan hệ huyết thống gần gũi với nhau. Quy mô mỗi chi họ dao động từ vài chục người đến hàng ngàn người. Mật độ các chi họ là từ 1 đến 43 tại mỗi tỉnh, thành phố, đông nhất là tại tỉnh Thái Bình với 43 chi họ và thưa nhất là tại 10 tỉnh khác với mỗi nơi 1 chi họ. Những năm gần đây đã phát hiện thêm được nhiều chi họ mới tại một số địa phương.

Công cuộc Chắp nối dòng họ - Tìm về cội nguồn cũng cho thấy Họ Tô phổ biến nhất trong dân tộc Kinh. Bên cạnh đó, một số dân tộc ít người cũng có các chi Họ Tô, như: dân tộc Tày, dân tộc Nùng, dân tộc Sán Dìu, dân tộc Sán Chí, dân tộc Choang, dân tộc Hoa. Khi có dịp giao lưu, bà con người Họ Tô trong các dân tộc khác nhau đều thể hiện những tình cảm trìu mến, thân thiết.

Trong thời đại ngày nay, đồng hành cùng dân tộc, những người mang Họ Tô có mặt trên hầu khắp các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và đã góp phần tích cực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo những số liệu chưa thật đầy đủ, tâp hợp được đến đầu năm 2015, khi quyển sách “Họ Tô Việt Nam” hoàn thành, thì cùng với Tô Chấn, Tô Hiệu, Tô Vĩnh Diện và Tô Ngọc Vân, hơn 800 người khác mang Họ Tô đã được vinh danh trên cả nước. Đó là 10 vị cán bộ cách mạng tiền bối, 16 vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, gần 150 Mẹ Việt Nam anh hùng, hơn 10 vị tướng lĩnh, gần 180 sỹ quan cấp cao của Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân, 15 cán bộ quản lý cấp trung ương cùng hơn 160 cán bộ quản lý cấp ngành và tỉnh, thành phố, 35 vị Giáo sư, Phó Giáo sư cùng gần 90 nhà khoa học khác, 40 văn nghệ sỹ, khoảng 80 người đoạt các giải thưởng và danh hiệu cao quý, gần 20 doanh nhân thành đạt. Những tư liệu trên đây cho thấy Họ Tô đã trở thành một thành viên tích cực trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Theo kết quả nghiên cứu của cố Giáo sư Trần Quốc Vượng và Giáo sư Lê Văn Lan thì Tô Lịch là người có thật. Ngài sinh trưởng vào khoảng đầu Thế kỷ thứ IV tạì vùng Long Đỗ hay Tống Bình (tức Thủ đô Hà Nội ngày nay). Ngài nổi tiếng là người hiếu hạnh. Gia đình nhiều thế hệ đầm ấm, thuận hòa. Gặp khi mất mùa, Ngài cho cả làng vay thóc và cứu sống được nhiều mạng người. Triều đình khen ngợi Ngài và cho cắm cờ biểu dương ở cổng làng. Tên Ngài được đặt cho làng và cho cả con sông chảy qua. Về sau, Ngài được vinh danh là Long Đỗ Thần quân Quảng Lợi Bạch Mã Đại vương. Năm 545, vua Lý Nam Đế cho xây một tòa thành bên bờ sông Tô Lịch và đặt tên là Tô Lịch giang thành.

Chuyện kể rằng: Năm 866, viên quan cai trị kiêm thầy phù thủy cao tay của nhà Đường là Cao Biền cho khởi công xây dựng thành Đại La. Một hôm, khi dạo chơi trên sông, viên quan cai trị gặp một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, mình mặc áo màu vàng, đầu đội mũ màu tím, tay cầm hốt vàng rực rỡ một vùng trời, chập chờn lên xuống trên khoảng không. Khi Biền hỏi, dị nhân tự xưng là Tô Lịch. Vị thần xuất hiện như muốn báo cho kẻ thống trị ngoại bang biết rằng đất này vốn đã có chủ là người bản địa rồi. Không chịu thừa nhận chân lý và thực tế đó, Cao Biền đã tuyên chiến. Y cho lập đàn, niệm chú, dùng kim đồng, thiết phủ để yểm. Đêm hôm ấy, giông tố nổi lên, gió mưa gào thét, sấm sét ầm ầm, trời đất âm u, thần tướng reo hò, kinh thiên động địa. Trong khoảnh khắc, kim đồng, thiết phủ bật tung ra khỏi mặt đất, biến thành tro bụi, bay mù mịt trên không. Cao Biền kinh hãi than rằng: “Xứ này có thần linh dị, ở lâu tất chuốc lấy tai vạ!”. Kẻ thống trị ngoại lai đại bại, phải xây đền thờ vị thần bản địa chiến thắng! Đó chính là ngôi đền Bạch Mã, một trong các Thăng Long tứ trấn, tọa lạc tại số 76 Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội ngày nay. Cũng chính viên quan đô hộ nhà Đường đó đã buộc phải phong vị thần chiến thắng là Đô phủ Thành hoàng Thần quân.

Vậy nên có thơ rằng:

Ngàn năm Bắc thuộc khắc tên Người

Khuấy nước, chọc trời, dễ mấy ai

Bóng nước giang đài soi lịch sử

Tống Bình đô phủ tác dương oai.

Chuyện lại kể rằng:Năm 1010, khi dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La (Thăng Long), vua Lý Thái Tổ cho xây một tòa thành mới, nhưng hôm trước xây lên được đến đâu, thì sáng hôm sau, tòa thành lại lún sụt hết. Về sau nhờ có ngựa trắng từ đền Bạch Mã đi ra dẫn đường, chỉ lối, cho nên tòa thành mới được xây dựng vững bền. Người khai sinh ra kinh đô quốc gia Đại Việt đã phong tặng Ngài danh hiệu tôn quý Quốc đô Thăng Long Thành hoàng Đại vương.

Những điều trình bày trên đây cho thấy Thần Tô Lịch là một nhân vật lịch sử Họ Tô xuất hiện rất sớm trên đất Đại La. Ngài từng là một quan chức địa phương tại địa bàn Long Đỗ trọng yếu. Nổi tiếng là người yêu nước, thương dân, Ngài đã có công lớn trong việc xua đuổi bọn thống trị ngoại bang, góp phần xây dựng non sông, đất nước. Tài cao, đức trọng và uy tín lớn lao của Thần Tô Lịch lưu truyền suốt gần hai ngàn năm qua trên đất nước ta. Ở Thần Tô Lịch hội tụ đầy đủ những phẩm chất cao quý, tiêu biểu cho dòng Họ Tô, đáp ứng được lòng mong đợi của lớp lớp bà con họ nhà trong cả nước. Là một quan chức đia phương, ngay cả sau khi đã qua đời, Ngài vẫn còn được phong thần và vinh danh lên mức rất cao. Ngài được vinh thăng liên tiếp các vị thế và danh hiệu tôn quý, từ chỗ là Thần Thành hoàng của ngôi làng Long Đỗ trở thành Thành hoàng của tòa phủ thành Đại La “Đô phủ Thành hoàng Thần quân” rồi đến Thành hoàng của cả quốc gia “Quốc đô Thăng Long Thành hoàng Đại vương”. Sau này, các vua nhà Trần còn gia phong Ngài lần lượt các chữ Bảo quốcTrấn linh  rồi Định bang. Như vậy, duệ hiệu đầy đủ của Thần Tô Lịch là Bảo quốc Trấn linh Định bang Quốc đô Thăng Long Thành hoàng Đại vương.  Đến nay đã tìm được 15 địa điểm còn đình, đền, miếu thờ Thần Bạch Mã, tức là Thần Tô Lịch, tại các tỉnh, thành phố, như: Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hà Nam, đặc biệt là đình làng Thuần Lương (xã Hùng Thắng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

Thể theo nguyện vọng của đông đảo bà con Họ Tô trong cả nước, ngày 19-9-2010, nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Thường trực Ban Liên lạc Họ Tô Việt Nam (nay là Thường trực Hội đồng Họ Tô Việt Nam), đã tổ chức trọng thể Lễ suy tôn Thần Long Đỗ - Tô Lịch, Thành hoàng thành Thăng Long, làm Thủy tổ Họ Tô. Từ đây, Thần Tô Lịch trở thành biểu tượng tinh thần linh thiêng cao quý chính thức của Họ Tô Việt Nam, tấm gương mẫu mực, tài đức vẹn toàn cho đời đời hậu thế noi theo.

                                                                                               TÔ BÁ TRỌNG

Share:

Sơ lược tóm tắt về Họ Tô thôn Mỹ Nội

 

HỌ TÔ THÔN MỸ NỘI

 Xã Bắc Hồng, huyện Đông Anh

          Theo lời truyền lại cho con cháu: Vào cuối thế kỷ 18, C Tô Hữu Tri cũng vợ và 2 người con trai từ làng Gốm Sơn Du, phủ Bắc Hà, huyện Kim Đan, tỉnh Bắc Ninh sang định cư, sinh cơ lập nghiệp tại làng Mỹ Nội. Mỹ Nội cách làng Gốm 2 cánh đồng, cả 2 làng thuộc về xã Sơn Du, phủ Bắc Hà, huyện Kim Đan, tỉnh Bắc Ninh.

          Dăm năm sau khi về định cư ở Mỹ Nội, “cảm thông  với người dân Mỹ Nội người ít, của ít, đất xấu, dân nghèo vợ chồng Thủy tổ Tô Hữu Tri đã hiến một khu đất ruộng đẹp” để dân làng Mỹ Nội xây đình. “Đình làng xây xong, hai C lại cung tiến hai mẫu ruộng tốt để làng cúng tuần sóc, vọng (mồng một, rằm) và tuần tiết bốn mùa”.

          Nghĩa cử của các C được dân làng nhớ ơn, sau này được khắc vào bia đá, thờ ở đình làng Mỹ Nội. Đó là “Bia ghi Hậu Thần, được khắc  vào năm Gia Long thứ 11 (1812)”. Hiện con cháu họ Tô ở Mỹ Nội còn lưu giữ được tấm bia này, hiện tấm bia này đang được đặt cạnh Mộ Tổ.

          Cụ thân sinh Cụ Tri tên là cụ Tô Hữu Ngôn, người làng Gốm. Cụ sinh được 4 người con là các Cụ: Tô Hữu Huy, Tô Hữu Tri, Tô Hữu Phúc và Tô Hữu Nghĩa.

          Cụ Tô Hữu Tri sinh được 3 người con: Người con trai trưởng không rõ tên gì, sinh sống ở làng Gốm. Hai người  con thứ sang Mỹ Nội định cư cùng cha mẹ.

          Người anh tên là Tô Hữu Chưởng, sinh được 6 người con trai tên là Dụng, Thìn, Ngát, Vũ, Tháp và Khiêm.

          Người em là Tô An Lạc sinh được 3 người con: hai người con trai tên là Đoàn và Dự, người con gái út không rõ tên gì.

          Người họ Tô định cư ở Mỹ Nội (nay là xã Bắc Hồng, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội) đến nay được 9 đời, có 4 cành, 74 hộ với 366 nhân khẩu.

          Năm 1959 có gia đình ông Tô Đình Thu chuyển lên sinh sống ở thôn La Đao, xã Tân Kim, huyên Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, nay có 2 hộ với 11 nhân khẩu.

          Đã hơn 200 năm sinh sống ở Mỹ Nội, các thế hệ người họ Tô vẫn giữ mối liên hệ gắn bó với chi họ Tô làng Gốm  (nay là làng Sơn Du, xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội), tham gia các công việc chung của dòng họ, xây mộ tổ, thờ cúng tổ tiên, thăm viếng nhau.

          Từ những năm 80 của thế kỷ trước, chi họ Tô Mỹ Nội đã quy tập mồ mả từ các xứ đồng về nghĩa trang làng xây mộ Tổ, lập phả hệ. Hàng năm tổ chức giỗ Tổ vào ngày 8 tháng 5 và 12 tháng Chạp, đóng quỹ khuyến học, đại diện các hộ có mặt đông đủ, thành kính tri ân Tổ tiên.

          Nhiều đời nay, phần lớn các gia đình họ Tô ở Mỹ Nội làm nghề nông. Từ hòa bình lập lại (1955), có một số người làm nghề khác như thợ nề, thợ mộc, trồng cây cảnh, thoát ly làm công nhân, dạy học, thầy thuốc, dịch vụ, buôn bán. Nhìn chung, các hộ đủ ăn, không có hộ nghèo, 30% các hộ có mức sống khá.

          Trong họ có 19 người tốt nghiệp đại học, trong đó có 6 thạc sỹ, 1 Phó giáo sư tiến sỹ - thầy thuốc ưu tú và 01 Tiến sỹ ngành Thể thao.

Tô Bá Cảnh (Đời thứ 6) ĐT: 01676 113 945

Hiệu đính: Tô Minh Trường (Đời thứ 7) ĐT: 0917 347 348

         

Share:

Bài phổ biến

Được tạo bởi Blogger.

Nhận xét mới

Bài mới đăng